Tư vấn

Doanh nghiệp

Thời hạn ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật và nghĩa vụ phối hợp của doanh nghiệp theo Nghị định 333/2026/NĐ-CP
Thời hạn ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật và nghĩa vụ phối hợp của doanh nghiệp theo Nghị định 333/2026/NĐ-CP

(ẢNH MINH HỌA AI)

Nghị định 333/2026/NĐ-CP đặt ra nghĩa vụ đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng trong việc ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Bài viết này trình bày theo trình tự: thời hạn thực hiện yêu cầu trong trường hợp thông thường và khẩn cấp, nhóm doanh nghiệp chịu nghĩa vụ, trách nhiệm từ chối hoặc tạm ngừng cung cấp dịch vụ, và nghĩa vụ phối hợp kỹ thuật của doanh nghiệp viễn thông, Internet.

1. Thời hạn thực hiện yêu cầu ngăn chặn, gỡ bỏ

Theo điểm a và điểm b khoản 4 Điều 16 Nghị định 333/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp có nghĩa vụ hạn chế, ngăn chặn truy cập, xóa bỏ thông tin, gỡ bỏ dịch vụ, ứng dụng tại Việt Nam đối với thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng, khi có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an.

Về thời hạn, trong trường hợp thông thường, yêu cầu phải được hoàn thành chậm nhất trong 24 giờ kể từ thời điểm doanh nghiệp nhận được yêu cầu. Trong trường hợp khẩn cấp đe dọa xâm hại an ninh quốc gia, thời hạn được rút ngắn, theo đó yêu cầu phải được hoàn thành chậm nhất trong 06 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu. Cả hai thời hạn đều được tính từ thời điểm doanh nghiệp tiếp nhận yêu cầu của lực lượng chuyên trách nêu trên.

2. Nhóm doanh nghiệp chịu nghĩa vụ và thời hạn áp dụng

Ngoài Điều 16, khoản 2 Điều 18 xác định cụ thể năm nhóm doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện biện pháp bảo đảm an ninh thông tin mạng, gồm: doanh nghiệp viễn thông; doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet; doanh nghiệp cung cấp dịch vụ lưu trữ web (hosting); doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung tâm dữ liệu (data center); và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng viễn thông.

Theo điểm a khoản 2 Điều 18, các doanh nghiệp này phải ngăn chặn, gỡ bỏ nội dung, dịch vụ, ứng dụng vi phạm pháp luật trên mạng chậm nhất trong 24 giờ kể từ khi có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an. Hình thức yêu cầu có thể là văn bản, điện thoại hoặc thư điện tử.

3. Trách nhiệm từ chối hoặc tạm ngừng cung cấp dịch vụ

Bên cạnh nghĩa vụ ngăn chặn, gỡ bỏ, điểm b khoản 2 Điều 18 quy định năm nhóm doanh nghiệp nêu trên có trách nhiệm từ chối cung cấp hoặc tạm ngừng cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ Internet và các dịch vụ khác đối với tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ để đăng tải thông tin vi phạm pháp luật trên mạng. Nghĩa vụ này phát sinh khi có yêu cầu hợp lệ của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an.

4. Nghĩa vụ phối hợp của doanh nghiệp viễn thông, Internet

Theo điểm c khoản 2 Điều 18, doanh nghiệp viễn thông và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet phải kết nối, tiếp nhận yêu cầu điều phối ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin xấu độc, vi phạm pháp luật, báo cáo kết quả qua hệ thống kỹ thuật và thực hiện các biện pháp xử lý khác theo yêu cầu của Bộ Công an.

Theo điểm d khoản 2 Điều 18, hai nhóm doanh nghiệp này còn phải bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, hệ thống kết nối, năng lực xử lý, truyền tải, chia sẻ thông tin, dữ liệu và các điều kiện cần thiết khác trong quá trình cung cấp dịch vụ. Mục đích của nghĩa vụ này là đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh thông tin mạng và phục vụ việc triển khai các giải pháp, biện pháp bảo vệ an ninh mạng theo quy định của pháp luật và theo yêu cầu hợp lệ của lực lượng chuyên trách thuộc Bộ Công an.

Ở phạm vi rộng hơn, khoản 1 Điều 18 quy định doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân cung cấp, sử dụng dịch vụ trên không gian mạng có trách nhiệm phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc triển khai các hoạt động, biện pháp bảo đảm an ninh thông tin mạng. Như vậy, nghĩa vụ phối hợp không chỉ đặt ra đối với doanh nghiệp viễn thông, Internet mà còn áp dụng đối với mọi chủ thể cung cấp, sử dụng dịch vụ trên không gian mạng.

Nguồn: https://luatvietnam.vn/linh-vuc-khac/doanh-nghiep-phai-go-bo-thong-tin-dich-vu-ung-dung-vi-pham-phap-luat-tren-mang-trong-bao-lau-883-114898-article.html

ĐỌC THÊM

Trạng thái mã số thuế 03 và 06: Doanh nghiệp có bắt buộc nộp hồ sơ khai thuế không?

Khi đã rơi vào trạng thái 03 hoặc 06, doanh nghiệp có phải tiếp tục nộp hồ sơ khai thuế không?

Quy trình thành lập doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành

Thành lập doanh nghiệp là quá trình thực hiên các thủ tục pháp lý được quy định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà tổ chức, cá nhân nào đó cần làm để bắt đầu hoạt động kinh doanh

7 việc cần làm sau khi thành lập doanh nghiệp

Nhận Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới chỉ là bước khởi đầu. Để vận hành hợp pháp và tránh rủi ro pháp lý, doanh nghiệp cần khẩn trương hoàn thành 7 công việc quan trọng ngay sau khi thành lập.

Thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có thể điều chỉnh cơ cấu tổ chức để phù hợp với nhu cầu quản lý và phát triển. Một trong những thay đổi quan trọng là thay đổi người đại diện theo pháp luật