Nghị định 333/2026/NĐ-CP đặt ra các yêu cầu đối với doanh nghiệp viễn thông, Internet trong việc xác định thuê bao, ghi nhận và lưu trữ thông tin gắn với địa chỉ IP. Bài viết này trình bày theo trình tự: nguyên tắc định danh địa chỉ IP, nội dung nhật ký hệ thống cấp phát và quản lý địa chỉ IP, thời hạn và yêu cầu bảo mật khi lưu trữ, nghĩa vụ cung cấp thông tin định danh cho cơ quan chức năng, và quy định cấm khai thác vì mục đích thương mại.
1. Nguyên tắc định danh địa chỉ IP
Theo Điều 21 và khoản 1 Điều 22 Nghị định 333/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet có trách nhiệm thiết lập và duy trì hệ thống kỹ thuật để ghi nhận, lưu trữ, quản lý thông tin phục vụ định danh địa chỉ IP, gắn với thông tin thuê bao, thời điểm sử dụng dịch vụ và thông tin dịch vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Việc quản lý định danh phải bảo đảm tính chính xác, toàn vẹn và khả năng truy nguyên duy nhất đến tổ chức, cá nhân đăng ký sử dụng dịch vụ. Yếu tố truy nguyên được xác định theo loại hình mạng: đối với mạng băng rộng cố định là địa chỉ lắp đặt đường truyền kết nối Internet; đối với mạng viễn thông di động là số điện thoại đăng ký.
Về phạm vi thời gian, việc định danh phải được thực hiện xuyên suốt ba giai đoạn cấp phát, sử dụng và thu hồi địa chỉ IP, bảo đảm tính liên tục, nhất quán và đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước cũng như các biện pháp bảo vệ an ninh mạng. Riêng tại thời điểm cấp phát, khoản 1 Điều 22 yêu cầu doanh nghiệp áp dụng biện pháp kỹ thuật để xác định chính xác danh tính thông tin thuê bao.
2. Nội dung tối thiểu của nhật ký hệ thống cấp phát, quản lý địa chỉ IP
Khoản 2 Điều 22 quy định dữ liệu nhật ký hệ thống cấp phát, quản lý địa chỉ IP phải được đồng bộ theo chuẩn thời gian quốc gia và bao gồm tối thiểu năm nhóm thông tin.
Nhóm thứ nhất là thông tin kết nối, gồm địa chỉ IP nguồn, cổng nguồn, địa chỉ IP đích, cổng đích và giao thức kết nối. Nhóm thứ hai là thông tin ánh xạ địa chỉ IP: trường hợp sử dụng kỹ thuật dịch địa chỉ mạng, doanh nghiệp phải lưu trữ đầy đủ thông tin ánh xạ này (điểm b). Nhóm thứ ba là thông tin thời gian, theo đó phải ghi nhận cả thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc phiên kết nối, được đồng bộ theo chuẩn thời gian quốc gia (điểm c). Nhóm thứ tư là các mã định danh, gồm mã định danh cổng cấp IP công cộng (Gateway ID) và mã định danh phiên kết nối (Session ID) (điểm d). Nhóm thứ năm là thông tin thuê bao, tài khoản sử dụng địa chỉ IP tại thời điểm tương ứng (điểm đ).
3. Thời hạn lưu trữ và yêu cầu bảo mật
Khoản 3 Điều 22 quy định dữ liệu nhật ký hệ thống nêu tại khoản 2 phải được lưu trữ đầy đủ, liên tục trong thời hạn tối thiểu 12 tháng. Cùng với thời hạn này, hệ thống lưu trữ phải bảo đảm tính toàn vẹn, an toàn, bảo mật và phòng ngừa việc sửa đổi, xóa bỏ dữ liệu. Ngoài ra, hệ thống phải bảo đảm khả năng trích xuất và cung cấp dữ liệu cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng theo thời gian thực để thực hiện biện pháp bảo vệ an ninh mạng.
4. Nghĩa vụ cung cấp thông tin định danh địa chỉ IP
Cơ chế kết nối kỹ thuật. Theo khoản 1 Điều 23, doanh nghiệp phải thiết lập và duy trì cơ chế kỹ thuật phù hợp để kết nối và cung cấp thông tin phục vụ định danh địa chỉ IP với hệ thống kỹ thuật của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an, việc kết nối và cung cấp thông tin phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
Căn cứ và nội dung cung cấp. Theo điểm a khoản 2 Điều 23, việc cung cấp thông tin chỉ được thực hiện trên cơ sở yêu cầu hợp pháp bằng văn bản hoặc yêu cầu điện tử hợp lệ của lực lượng chuyên trách, nhằm phục vụ biện pháp bảo vệ an ninh mạng, xác minh, điều tra và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng. Theo điểm b khoản 2 Điều 23, doanh nghiệp phải cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin định danh địa chỉ IP tại thời điểm tương ứng, bao gồm: họ tên cá nhân, thông tin tổ chức, số định danh cá nhân, tên hoặc mã thuê bao, địa chỉ đăng ký lắp đặt đường truyền kết nối Internet (đối với mạng băng rộng cố định) và số điện thoại đăng ký (đối với mạng viễn thông di động).
Thời hạn cung cấp. Theo điểm c khoản 2 Điều 23, thời hạn cung cấp thông tin chậm nhất là 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu. Đối với trường hợp khẩn cấp liên quan đến an ninh quốc gia, phòng, chống khủng bố mạng, tấn công mạng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thời hạn này không quá 03 giờ.
5. Quy định cấm khai thác vì mục đích thương mại
Khoản 3 Điều 23 nghiêm cấm việc sử dụng, tiết lộ hoặc khai thác thông tin định danh địa chỉ IP vì mục đích thương mại, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Quy định cấm này áp dụng đồng thời đối với cả ba hành vi: sử dụng, tiết lộ và khai thác.
Nguồn: https://luatvietnam.vn/linh-vuc-khac/doanh-nghiep-vien-thong-internet-phai-dinh-danh-dia-chi-ip-va-luu-nhat-ky-cap-phat-ip-nhu-the-nao-883-114887-article.html