Tư vấn

Doanh nghiệp

Phá sản doanh nghiệp khi nào? Trường hợp nào không được phá sản
Phá sản doanh nghiệp khi nào? Trường hợp nào không được phá sản
 Luật Phá sản năm 2014, pháp luật phá sản Việt Nam khi ghi nhận tình hình tài chính bi đát của doanh nghiệp, hợp tác xã không còn sử dụng thuật ngữ “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản” mà thay và

Theo Luật Phá sản năm 2014:

“Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán".

Như vậy, khái niệm này được Luật Phá sản năm 2014 xác định theo tiêu chí định lượng và dấu hiệu duy nhất để xác định khái niệm doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán đó là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.

Như vậy, tương tự như pháp luật phá sản các nước trên thế giới, Luật Phá sản coi việc mất khả năng thanh toán nợ đến hạn khi các chủ nợ có yêu cầu là căn cứ cơ bản và duy nhất để xem xét mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã mà không cần phải xem xét đến các dấu hiệu khác như Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 quy định. Tuy nhiên, cách xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán ở các nước trên thế giới không hoàn toàn giống nhau. Ví dụ-. Theo pháp luật của Singapore, con nợ có thể bị tuyên bố phá sản khi không trả được khoản nợ từ 2000 đôla Singapore trở lên; theo Luật Phá sản của Nhật Bản, khi một người mắc nợ ngừng trả tiền thì người đó coi được coi là không trả được nợ; Còn theo pháp luật phá sản của Cộng hoà Pháp, mọi thương nhân và pháp nhân, kể cả pháp nhân không có quy chế thương nhân, khi lâm vào tình trạng ngừng thanh toán thi đều phải khai báo trong thời hạn 15 ngày để mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp hoặc thanh lý doanh nghiệp ...

Khác với Luật Phá sản doanh nghiệp, Luật Phá sản không quy định các dấu hiệu cụ thể để xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Điều đó thể hiện sự tiến bộ của Luật Phá sản, phù hợp với thông lệ chung trên thế giới, tạo điều kiện cho việc sớm mở thủ tục phá sản cũng như khả năng phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Nghiên cứu dâu hiệu mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, về phương diện lý luận cũng như thực tiễn cần xem xét một số khía cạnh cụ thể sau:

Thứ nhất, mất khả năng thanh toán không có nghĩa là doanh nghiệp hoàn toàn cạn kiệt tài sản. Doanh nghiệp có thể còn rất nhiều tài sản mà vẫn mất khả năng thanh toán, chỉ vì tài sản đó không thể bán được, cho nên doanh nghiệp không có tiền để thanh toán các khoản nợ.

Thứ hai, mất khả năng thanh toán không chỉ là hiện tượng doanh nghiệp không thanh toán được nợ mà nó còn thể hiện doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng tài chính tuyệt vọng, có nghĩa là không thể trả được nợ, không có lối thoát, trừ phi cỏ sự can thiệp của Toà án hoặc sự giúp đỡ của các chủ nợ.

Thứ ba, đối với doanh nghiệp tư nhân, nếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh có giao kết bất kì hợp đồng nào mà sau đó phát sinh ra các khoản nợ thì những khoản nợ này được coi là cơ sở để đánh giá tình hạng phá sản của doanh nghiệp. Nhưng ở đây cũng cần phân biệt với các khoản nợ do chủ doanh nghiệp tư nhân xác lập trên cơ sở những hợp đồng phục vụ cho sinh hoạt cá nhân hoặc gia đình họ vì nó không xuất phát từ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Thứ tư, pháp luật không nhất thiết quy định cụ thể mất khả năng thanh toán một khoản nợ bao nhiêu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản, bởi vì tình hình tài chính trong các doanh nghiệp rất khác nhau, có thể có những doanh nghiệp nợ vài ba chục triệu nhung không có cách gì để trả, trong lúc cũng có những doanh nghiệp nợ tới vài ba trăm triệu vẫn có khả năng thanh toán bình thường.

Thứ năm, bản chất của việc mất khả năng thanh toán có thể không trùng với biểu hiện bên ngoài là trả được nợ hay không. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nhiều doanh nghiệp không trả được nợ nhưng điều này chỉ có tính chất nhất thời trong khi mọi hoạt động của doanh nghiệp vẫn diễn ra bình thường. Ngược lại, có những doanh nghiệp sự trả nợ chỉ là trá hình, che đậy tình hạng tài chính tuyệt vọng của doanh nghiệp, họ phải sử dụng nhiều phương tiện gian trá để bù đắp ngân quỹ như vay nặng lãi, thế chấp tài sản nhiều lần để vay tiên ngân hàng...

Tóm lại, theo quy định của pháp luật Việt Nam, ở bình diện tình hình tài chính tuyệt vọng của doanh nghiệp, phá sản là khái niệm dùng để chỉ doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản với dấu hiệu đặc trưng nhất là mất khả năng thanh toán nợ đến hạn.

Tuy nhiên, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, hay doanh nghiệp mất khả năng thanh toán chưa hẳn đã bị phá sản. Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chỉ được coi là bị phá sản khi đã tiến hành thủ tục giải quyết yêu cầu và có quyết định tuyên bố phá sản của Toà án. Dấu hiệu này của khái niệm phá sản được Luật Phá sản năm 2014 ghi nhận, theo đó:

"Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Toà án nhân dân ra quyết định tuyên bố phả sản ” (khoản 2 Điều 4).

Khi nào Tòa án ra quyết định không mở thủ tục phá sản?

Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.

Trong đó, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.

Khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn đó, Thẩm phán phải ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản, trừ trường hợp Tòa án nhân dân giải quyết phá sản theo thủ tục rút gọn theo Điều 105 Luật Phá sản 2014.

Tuy nhiên, nếu xét thấy doanh nghiệp, hợp tác xã không mất khả năng thanh toán thì Tòa án nhân dân sẽ ra quyết định không mở thủ tục phá sản.

Trong trường hợp này, người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được trả lại tiền tạm ứng chi phí phá sản; yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thực hiện nghĩa vụ về tài sản đã bị tạm đình chỉ theo quy định tại Điều 41 Luật Phá sản 2014 được tiếp tục giải quyết.

Và quyết định không mở thủ tục phá sản sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày ra quyết định.

(Điều 4 và Điều 42 Luật Phá sản 2014)

ĐỌC THÊM

Đối tượng nào có quyền thành lập doanh nghiệp? Viên chức có được thành lập doanh nghiệp không? Viên chức có được góp vốn vào doanh nghiệp không?

Đối tượng nào có quyền thành lập doanh nghiệp? Viên chức có được thành lập doanh nghiệp không? Viên chức có được góp vốn vào doanh nghiệp không?

Thủ tục thành lập doanh nghiệp tư nhân: Cần hồ sơ gì?

Doanh nghiệp tư nhân là một trong những loại hình doanh nghiệp phổ biến hiện nay. Để có thể thực hiện được thủ tục thành lập doanh nghiệp tư nhân cần phải đáp ứng những điều kiện nào?

Những vấn đề pháp lý cơ bản trong thành lập Doanh nghiệp

Hiện nay, thủ tục thành lập doanh nghiệp đã được rút gọn một cách tương đối. Tuy nhiên, vẫn có một số vấn đề pháp lý cơ bản cần lưu ý như sau:

Người lao động bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không?

Quấy rối tình dục tại nơi làm việc được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và ảnh hưởng tiêu cực đến người lao động. Vậy người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không?

Những điều cần biết về pháp nhân

Pháp nhân là gì mà được đề cập rất nhiều trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Hãy cùng công ty Luật TNHH PLTT Hà Nội tìm hiểu những điều cần biết về pháp nhân

Các loại hình kinh doanh phổ biến hiện nay

Hiện nay tại Việt Nam có 5 loại hình kinh doanh phổ biến. Với mỗi doanh nghiệp sẽ có một loại hình kinh doanh phù hợp với các điều kiện, nhu cầu và lĩnh vực của họ.

Xin tư vấn trường hợp phòng đăng ký kinh doanh từ chối hồ sơ thành lập doanh nghiệp do đăng ký ngành nghề dịch vụ karaoke ?

Thưa luật sư, tôi đang học môn pháp luật đại cương và có 1 tình huống xinđược tư vấn cụ thể và rõ ràng ạ, tôi đã tham khảo nhiều tài liệu nhưng vẫnchưa chắc chắn. Rất mong được sự giúp đỡ.

Điểm mới của dự thảo nghị định về đăng ký doanh nghiệp

Để đáp ứng yêu cầu chi tiết hóa và hoàn thiện các nội dung được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2020.

Hướng dẫn xác định thời gian vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải

Bài viết sau có nội dung về xác định thời gian vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải được quy định cụ thể tại Nghị định 08/2022/NĐ-CP.

Tra cứu tờ khai thuế kinh doanh online đã nộp đến cơ quan thuế năm 2025

Bài viết dưới đây sẽ hướng dẫn cách tra cứu tờ khai thuế kinh doanh online đã nộp đến cơ quan thuế năm 2025.

Cách lập hóa đơn khi bị trả lại hàng hóa trong công ty TNHH hai thành trở lên

Việc bị khách trả lại hàng là điều không thể tránh khỏi khi kinh doanh. Vậy cách lập hóa đơn khi bị trả lại hàng hóa trong công ty TNHH 2 TV trở lên đang được quy định thế nào?

Chấm dứt hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh

Thủ tục chấm dứt hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp được quy định như thế nào ?

Quy định về những ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp có xu hướng mở rộng lĩnh vực kinh doanh ngoài ngành nghề đã đăng ký. Việc làm này có được không? Pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?

Xây dựng nội quy lao động và những lưu ý dành cho người sử dụng lao động khi xây dựng nội quy lao động

Nội quy lao động là một nội dung quan trọng trong thành lập và vận hành một doanh nghiệp. Cụ thể bài viết dưới đây sẽ cung cấp kiến thức về việc xây dựng nội quy lao động cho nội bộ doanh nghiệp.

Trình tự đầu tư bằng hình thức hợp dồng BCC

Luật BCC quy định về đầu tư bằng hình thức hợp đồng BCC đòi hỏi nhà đầu tư cần điều kiện và trình tự xác lập như thế nào?