Tư vấn

Bản quyền - Sở hữu trí tuệ

Quyền sở hữu công nghiệp có bị giới hạn không?
Quyền sở hữu công nghiệp có bị giới hạn không?

1. Khái quát về quyền sở hữu công nghệp

Quyền sở hữu công nghiêp (SHCN) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Chủ sở hữu quyền công nghiệp chỉ được thực hiện quyền của mình trong thời gian và phạm vi được bảo hộ theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ. Việc thực hiện quyền không được xâm phạm đến lợi ích của các tổ chức cá nhân khác đồng thời cũng không được vi phạm những quy khác của pháp luật có liên quan.

2. Các yếu tố giới hạn quyền sở hữu công nghiệp

Điều 132 Luật SHTT 2005 đã quy định quyền sở hữu công nghiệp có thể bị hạn chế bởi các yếu tố sau đây:

Quyền của người sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp;

Các nghĩa vụ của chủ sở hữu, bao gồm:

  • Trả thù lao cho tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí;
  • Sử dụng sáng chế, nhãn hiệu.

Chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Các yếu tố giới hạn quyền SHCN cũng được quy định chi tiết tại Luật này, cụ thể:

- Quyền sử dụng sáng chế nhân danh Nhà nước (Điều 133 Luật SHTT 2005):

  • Bộ, cơ quan ngang bộ có quyền nhân danh Nhà nước sử dụng hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng sáng chế thuộc lĩnh vực quản lý của mình nhằm mục đích công cộng, phi thương mại, phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân và đáp ứng các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội.
  • Việc sử dụng với mục đích trên không cần sự đồng ý của chủ sở hữu sáng chế hoặc người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo hợp đồng độc quyền (sau đây gọi là người nắm độc quyền sử dụng sáng chế).
  • Sử dụng sáng chế theo quy định trên chỉ được giới hạn trong phạm vi và điều kiện chuyển giao quyền sử dụng của Luật này, trừ trường hợp sáng chế được tạo ra bằng việc sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật, kinh phí từ ngân sách nhà nước.

- Quyền sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dang công nghiệp: (khoản 16 Điều 1 Luật SHTT sửa đổi 2009)

  • Trường hợp trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên (nếu có) của đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp mà có người đã sử dụng hoặc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đồng nhất với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp trong đơn đăng ký nhưng được tạo ra một cách độc lập (sau đây gọi là người có quyền sử dụng trước) thì sau khi văn bằng bảo hộ được cấp, người đó có quyền tiếp tục sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp trong phạm vi và khối lượng đã sử dụng hoặc đã chuẩn bị để sử dụng mà không phải xin phép hoặc trả tiền đền bù cho chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ.
  • Việc thực hiện quyền của người sử dụng trước sáng chế, kiểu dáng công nghiệp không bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp.
  • Người có quyền sử dụng trước sáng chế, kiểu dáng công nghiệp không được phép chuyển giao quyền đó cho người khác, trừ trường hợp chuyển giao quyền đó kèm theo việc chuyển giao cơ sở sản xuất, kinh doanh nơi sử dụng hoặc chuẩn bị sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp. Người có quyền sử dụng trước không được mở rộng phạm vi, khối lượng sử dụng nếu không được chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp cho phép.

- Nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí (Điều 135 Luật SHTT 2005):

Chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí có nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả theo quy định về mức thù lao tối thiểu mà chủ sở hữu phải trả, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác:

  • 10% số tiền làm lợi mà chủ sở hữu thu được do sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí;
  • 15% tổng số tiền mà chủ sở hữu nhận được trong mỗi lần nhận tiền thanh toán do chuyển giao quyền sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí.

Trong trường hợp sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được nhiều tác giả tạo ra, mức thù lao được quy định như trên là mức dành cho tất cả các đồng tác giả; các đồng tác giả tự thoả thuận việc phân chia số tiền thù lao do chủ sở hữu chi trả.

Lưu ý: Nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả sẽ tồn tại trong suốt thời hạn bảo hộ của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí.

- Nghĩa vụ sử dụng sáng chế, nhãn hiệu (Điều 136 Luật SHTT 2005):

  • Chủ sở hữu sáng chế có nghĩa vụ sản xuất sản phẩm được bảo hộ hoặc áp dụng quy trình được bảo hộ để đáp ứng nhu cầu quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội.
  • Khi có các nhu cầu theo quy định mà chủ sở hữu sáng chế không thực hiện nghĩa vụ đó thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho người khác mà không cần được phép của chủ sở hữu sáng chế.
  • Chủ sở hữu nhãn hiệu có nghĩa vụ sử dụng liên tục nhãn hiệu. Việc sử dụng nhãn hiệu bởi bên nhận chuyển quyền theo hợp đồng sử dụng nhãn hiệu cũng được coi là hành vi sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu nhãn hiệu. Trong trường hợp nhãn hiệu không được sử dụng liên tục từ năm năm trở lên thì Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đó bị chấm dứt hiệu lực theo quy định của Luật này.

- Nghĩa vụ cho phép sử dụng sáng chế cơ bản nhằm sử dụng sáng chế phụ thuộc (Điều 137 Luật SHTT 2005):

Sáng chế phụ thuộc là sáng chế được tạo ra trên cơ sở một sáng chế khác (sáng chế cơ bản) và chỉ có thể sử dụng được với điều kiện phải sử dụng sáng chế cơ bản.

  • Trong trường hợp chứng minh được sáng chế phụ thuộc tạo ra một bước tiến quan trọng về kỹ thuật so với sáng chế cơ bản và có ý nghĩa kinh tế lớn, chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc có quyền yêu cầu chủ sở hữu sáng chế cơ bản chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cơ bản với giá cả và điều kiện thương mại hợp lý.
  • Trường hợp chủ sở hữu sáng chế cơ bản không đáp ứng yêu cầu của chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc mà không có lý do chính đáng thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể chuyển giao quyền sử dụng sáng chế đó cho chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc mà không cần được phép của chủ sở hữu sáng chế cơ bản

Theo thuvienphapluat.vn

ĐỌC THÊM

Đăng ký sở hữu trí tuệ cho sản phẩm như thế nào?

Hiện nay với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển của các tài sản trí tuệ ra đời. Việc này đã đặt ra một vấn đề cấp thiết đó chính là...

AI LÀ CHỦ THỂ CHỊU TRÁCH NHIỆM KHI HÀNG HÓA XÂM PHẠM NHÃN HIỆU TRÊN SÀN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ?

Để xử lý những hành vi xâm phạm bản quyền, người bị vi phạm nhãn hiệu cần biết được ai là chủ thể mà họ có thể yêu cầu chịu trách nhiệm cho hành vi vi phạm. Bài viết dưới đây sẽ trả lời cho...

Thực trạng hoạt động quảng cáo xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử và giải pháp

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các nền tảng thương mại điện tử ngày càng phổ biến. Trong đó, quảng cáo là hoạt động mang tính phổ biến và tiêu biểu trong thương mại điện tử. Tuy nhiên, hành vi quảng cáo xâm phạm...

Đánh cắp tác phẩm báo chí có thể bị phạt tới 300 triệu đồng

Hiện nay, nạn xâm phạm quyền tác giả, đánh cắp tác phẩm báo chí diễn ra nghiêm trọng khi các mạng xã hội nở rộ, tìm mọi cách câu kéo người dùng.

Bằng bảo hộ giống cây trồng có hiệu lực trong bao lâu?

Bằng bảo hộ giống cây trồng có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam và có mức hiệu lực khác nhau tùy vào từng loại giống cây trồng.

Những căn cứ nào để xác định mức bồi thường thiệt hại khi bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ?

Thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được xác định theo những nguyên tắc nào? Những căn cứ nào để xác định mức bồi thường thiệt hại khi bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ?

Thủ tục đăng ký nhãn hiệu

Thủ tục đăng ký nhãn hiệu gồm những nước nào ?

Loại hình tác phẩm nào được bảo hộ quyền tác giả?

Quyền tác giả là một quyền quan trọng của mỗi tác giả đối với tác phẩm do mình tạo ra. Vậy loại hình tác phẩm nào sẽ được pháp luật bảo hộ quyền tác giả, bài viết sau đây sẽ làm rõ vấn đề này.

Phân biệt cơ chế bảo hộ sáng chế và bí mật kinh doanh

Sáng chế và bí mật kinh doanh đều là hai đối tượng bảo hộ của quyền sở hữu công nghiệp được quy định trong Luật sở hữu trí tuệ 2005, nhưng đến năm 2009 và 2019 Luật này đã được sửa đổi, bổ sung một...

Chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan

Chuyển giao quyền tác giả được hiểu là việc chuyển giao một phần hoặc toàn bộ các quyền tài sản thuộc quyền của tác giả theo quy định của pháp luật cho tổ chức, cá nhân khác.

Những vấn đề pháp lý về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam, Doanh nghiệp cần quan tâm

Thực tiễn, hoạt động nhượng quyền rất phát triển, đã và đang được các chủ thể trên thế giới thực hiện một cách thường xuyên.

Ai có quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí?

Bài viết trình bày quy định của pháp luật về quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí

Yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu gồm những yếu tố nào? Việc xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được quy định như thế nào?

Yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu gồm những yếu tố nào? Việc xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được quy định như thế nào?

Khi khởi kiện, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không?

Bài viết dưới đây sẽ giải đáp vấn đề về quyền yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của chủ thể có quyền sở hữu trí tuệ.

Bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống theo quy định của một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam

Xu thế này kéo theo việc ra đời của những nhãn hiệu độc đáo “phi truyền thống” như âm thanh, mùi vị, mùi hương… Việc sử dụng các nhãn hiệu phi truyền thống ngày càng phổ biến tại các quốc gia