1. Phim lậu là gì? Phim được bảo vệ bản quyền thế nào?
Phim lậu là phim được sao chép hoặc phân phát trái phép mà không có sự đồng ý của người sở hữu bản quyền, người có quyền khai thác phim.
Hiện nay, trên mạng, hiện tượng xem phim "chùa" diễn ra khá phổ biến. Theo đó, các trang web lậu sẽ đi sao chép phim từ các website của nước ngoài hoặc của chính các website của Việt Nam đã mua bản quyền chiếu phim theo đúng quy định về và chiếu miễn phí trên website đó.
Đồng thời, người xem được xem miễn phí nhưng có thể sẽ phải xem quảng cáo, và các website chiếu phim lậu sẽ chạy quảng cáo, yêu cầu người xem bấm vào quảng cáo để kiếm doanh thu.
Về bản quyền phim, theo Điều 21 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung năm 2022, phim được định nghĩa là tác phẩm điện ảnh và được bảo hộ theo quyền tác giả như sau:
-
Tác giả của tác phẩm điện ảnh bao gồm biên kịch, đạo diễn được hưởng quyền nhân thân đặt tên, đứng danh và được bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm;
-
Người quay và dựng phim, phụ trách kỹ xảo điện ảnh, âm thanh và mỹ thuật,... các công việc có tính sáng tạo thì được quyền nhân thân đứng danh;
-
Tổ chức cá nhân đầu tư vào tác phẩm thì có thể công bố tác phẩm hoặc có thể thỏa thuận với những người có quyền trên để được đặt tên, sửa đổi tác phẩm;
-
Trường hợp kịch bản, tác phẩm âm nhạc trong tác phẩm điện ảnh được sử dụng độc lập thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của kịch bản, tác phẩm âm nhạc được hưởng quyền tác giả một cách độc lập đối với kịch bản, tác phẩm âm nhạc đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác bằng văn bản.
2. Xem phim lậu có bị xử phạt không?
Có thể thấy rõ, pháp luật Việt Nam chưa có chế tài xử phạt với hành vi xem phim lậu mà chỉ mới đưa ra những mức phạt hành chính hoặc thậm chí là chịu trách nhiệm hình sự với hành vi phân phối, chiếu phim lậu trên các trang web lậu.
Theo đó, việc phân phối phim lậu là vi phạm quyền nhân thân và tài sản của tác giả, nhà sản xuất phim cũng như những tổ chức cá nhân đầu tư vào phim đó.
Người phân phối phim lậu sẽ bị phạt tiền từ 10 - 30 triệu đồng và sẽ bị dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số theo Điều 15 Nghị định 131/2013/NĐ-CP.
Căn cứ Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi quy định, người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực hiện một trong các hành vi sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình;
Song phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình, xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 50 - dưới 300 triệu đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100-dưới 500 triệu đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100-dưới 500 triệu đồng, thì bị phạt tiền từ 50-300 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm.
Phạt tiền từ 300 triệu đồng đến 1 tỷ đồng; phạt tù từ 6 tháng-3 năm đối với một trong các trường hợp: Phạm tội có tổ chức; phạm tội 2 lần trở lên; thu lợi bất chính từ 300 triệu đồng trở lên; gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan 500 triệu đồng trở lên; hàng hóa vi phạm trị giá 500 triệu đồng trở lên.
Pháp nhân thương mại phạm tội này có thể bị phạt tiền từ 300 triệu đồng đến 3 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 6 tháng đến 2 năm; bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 1-3 năm.
Như vậy, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về việc xử lý hành vi xem phim lậu của cá nhân. Dù vậy, với các cá nhân, tổ chức, pháp nhân thương mại hành vi phân phối, chiếu phim lậu trên các trang web lậu sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng với hành vi của mình.
Nguồn tham khảo: http://luatvietnam.vn/