Tư vấn

Hình sự

Phân biệt Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Phân biệt Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Thực tiễn quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án có tính chất chiếm đoạt tài sản, cơ quan tiến hành tố tụng thường nhầm lẫn trong việc định tội danh do dấu hiệu pháp lý đặc trưng của những tội phạm này có điểm tương đồng. Theo tác giả Đinh Văn Quế (nguyên Chánh tòa Hình sự TAND tối cao), việc phân biệt loại tội phạm này cần căn cứ vào chủ thể tội phạm; động cơ, mục đích của người phạm tội và điều kiện thực tế để đánh giá.

Giữa Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS năm 2015) và Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS năm 2015) thì dấu hiệu dễ bị nhầm lẫn là thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản.

Hiện nay, nhiều trường hợp người bị hại đến trình báo cơ quan Công an tố người phạm tội là lừa đảo, nhưng thực tế, người phạm tội chỉ có hành vi gian dối đối với người bị hại để giãn nợ hoặc có hành vi gian dối để vay được tiền, tài sản hoặc có hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản mà mình đã vay, mượn của người bị hại trước đó. Vậy trường hợp nào thì coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt, còn trường hợp nào thì coi là lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản?

Cả hai tội này đều có dấu hiệu chung là người phạm tội phải có hành vi “chiếm đoạt tài sản”. Tuy nhiên, việc xác định thế nào là chiếm đoạt thì rất phức tạp. Hiện nay có tình trạng vay, mượn trong nhân dân hoặc có những hợp đồng vay của ngân hàng với số tiền rất lớn lên đến hàng chục, thậm chí hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng, nhưng mỗi nơi xử lý một cách khác nhau. Có nơi coi đó chỉ là quan hệ dân sự hoặc quan hệ kinh tế, có nơi truy tố về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, có nơi truy tố về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Về lý luận, chiếm đoạt tài sản là hành vi chuyển dịch, đoạt lấy, chiếm lấy tài sản của người khác trái pháp luật, để nắm giữ, quản lý, sử dụng, định đoạt. Hành vi cố ý chiếm giữ tài sản của người khác với mục đích chuyển quyền sở hữu về tài sản từ của người khác sang của mình.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng cứ chiếm giữ tài sản của người khác, bất kể vì mục đích gì cũng là chiếm đoạt như: Lén lút lấy xe ô tô của cơ quan đi chơi rồi lại mang về trả; nói dối người khác là mượn xe đưa mẹ đi cấp cứu nhưng lại dùng xe để chở hàng lậu bị Công an bắt hoặc sau khi đánh nhau, một bên phải bỏ lại xe để chạy thoát thân, dẫn đến bên “thắng cuộc” phải mang xe về vì sợ để lại ở hiện trường thì người khác sẽ lấy mất. Quan niệm này cũng đang tồn tại ở một số cơ quan tiến hành tố tụng.

Nếu căn cứ vào Bộ luật Dân sự, thì quyền sở hữu tài sản bao gồm 03 quyền: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt. Chỉ người nào có đủ 03 quyền đó thì tài sản mới thực sự là của họ. Nếu một người chỉ có quyền chiếm hữu, quyền sử dụng tài sản thì họ không phải là chủ sở hữu vì không có quyền định đoạt tài sản. Nói dễ hiểu thì mới có hành vi “chiếm” mà chưa “đoạt” thì không phải là chiếm đoạt. Vì vậy, chiếm đoạt là biến của người khác thành của mình.

Chỉ khi nào xác định có chiếm đoạt thì lúc đó mới là tội phạm. Nếu đã xác định có chiếm đoạt tài sản thì việc phân biệt giữa hai tội phạm này chính là thủ đoạn gian dối có trước hay sau khi người phạm tội đã nhận được tài sản của người khác.

Nếu hành vi gian dối xảy ra trước khi vay, mượn rồi sau đó chiếm đoạt tài sản của người cho vay thì phải coi là lừa đảo chiếm đoạt tài sản, còn nếu hành vi gian dối xảy ra sau khi người phạm tội đã có tài sản một cách hợp pháp thì chỉ coi là lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cứ có hành vi gian dối trước khi có tài sản thì đều là lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mà phải xác định họ có mục đích chiếm đoạt tài sản hay không. Ví dụ: A dùng giấy tờ nhà (bản photo có công chứng) để thế chấp cho B vay 500 triệu đồng. Sau đó B phát hiện trước đó A đã dùng giấy tờ nhà thế chấp cho một ngân hàng vay 1 tỷ đồng nên đã tố cáo hành vi của A với Cơ quan điều tra. Trường hợp này, người vay chỉ gian dối để vay được tiền chứ không phải để chiếm đoạt. Do đó, không thể định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với A.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 175 BLHS năm 2015, thì hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là việc “người vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó”. Vậy thế nào là bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản? Đây là vấn đề thực tiễn đặt ra, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng rất lúng túng, nhưng đến nay vẫn chưa có hướng dẫn.

Đa số các chuyên gia cho rằng, “bỏ trốn” quy định tại Điều 140 BLHS năm 2015 không nhất thiết phải là trốn khỏi địa phương, cũng không cần Cơ quan điều tra phải truy nã, mà chỉ trốn tránh chủ nợ như: Bỏ ra khỏi nhà, không nghe điện thoại, không trả lời tin nhắn, thay số điện thoại, thay đổi chỗ ở mà không thông báo cho chủ nợ biết… miễn sao tránh mặt được chủ nợ.

Đối với trường hợp vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Vấn đề sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp cũng có ý kiến khác nhau.

Có ý kiến cho rằng, chỉ cần xác định sử dụng tài sản đó vào mục đích không được pháp luật cho phép là bất hợp pháp như: Khi vay nói là để đầu tư nuôi tôm, nhưng lại đem trả nợ ngân hàng để không bị chịu lãi quá hạn hoặc đem tiền vay được sử dụng vào mục đích không đúng như lời hứa với chủ nợ là bất hợp pháp. Tuy nhiên, đa số ý kiến cho rằng, cách hiểu bất hợp pháp như ý kiến trên là quá rộng và cũng không phù hợp với dấu hiệu “chiếm đoạt”, vì người phạm tội không có ý định chiếm đoạt, mà muốn dùng số tiền vay được trả nợ hoặc đầu tư, sản xuất rồi sẽ trả người cho vay. Nhưng nếu dùng số tiền vay được sử dụng vào mục đích phạm tội thì phải coi là bất hợp pháp như: Đánh bạc, buôn lậu, đưa hối lộ… dẫn đến không còn khả năng trả nợ.

Điều 175 BLHS năm 2015 còn quy định: “Đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”. Tuy nhiên, từ khi BLHS năm 2015 có hiệu lực pháp luật đến nay chưa thấy trường hợp nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự về dấu hiệu trên. Khi xác định tình tiết phạm tội này cần chú ý: Nếu các khoản vay, mượn trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 mà sau 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 mới hết hạn, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả, thì vẫn là quan hệ dân sự.

Nguồn tham khảo: https://vksndtc.gov.vn/

 
bo-luat-hinh-su-2015.doc
bo-luat-hinh-su-2015.doc

ĐỌC THÊM

Lừa đảo chữa bệnh bằng tâm linh, mức phạt là gì?

Việc lừa đảo chữa bệnh bằng tâm linh tuy không mới nhưng vẫn có rất nhiều người dính bẫy. Vậy hành vi lừa đảo này sẽ bị xử lý thế nào?

Tội đưa hối lộ trong lĩnh vực y tế có tình tiết tăng nặng bao nhiêu năm tù ?

Tội đưa hối lộ trong lĩnh vực y tế có tình tiết tăng nặng bao nhiêu năm tù ?

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn có bị coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hay không?

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 bao gồm: Phạm tội có tổ chức; Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;...

Khi nào hành vi đánh người bị truy cứu trách nhiệm hình sự? 

Hành vi đánh người sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự, chủ yếu là tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Mức phạt với người buôn bán bánh kẹo, thực phẩm giả ngày Tết

Những ngày gần Tết, nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của người dân đối với các loại bánh kẹo, thực phẩm là rất lớn. Nhân cơ hội này, nhiều người đã sản xuất, buôn bán các loại hàng giả để kiếm lời.

một số khó khăn, vướng mắc khi giải quyết vụ án về tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối

Qua nhiều lần sửa đổi, việc hình sự hóa tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối, BLHS 2015 đã quy định khá chi tiết, cụ thể. Tuy nhiên, quá trình áp dụng các quy định của BLHS về tội...

Quyền tự do ngôn luận là gì? Lợi dụng quyền tự do ngôn luận xâm phạm lợi ích của người khác sẽ bị xử lý hình sự thế nào?

Quyền tự do ngôn luận là gì? Trường hợp lợi dụng quyền tự do ngôn luận xâm phạm lợi ích của người khác sẽ bị xử lý hình sự thế nào theo quy định hiện nay?

Vay tiền rồi bỏ trốn có phạm tội không?

Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng hợp pháp (hình thức của hợp đồng có thể bằng văn bản hoặc bằng miệng) rồi dùng thủ đoạn gian dối...

Trốn nghĩa vụ quân sự bị xử lý thế nào?

Cho tôi hỏi nếu một người có hành vi trốn đi nghĩa vụ quân sự khi có lệnh gọi thì sẽ bị xử lý thế nào?

Lừa đảo là gì? Lừa đảo bao nhiêu tiền thì bị đi tù?

Lừa đảo là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống. Người thực hiện hành vi lừa đảo sẽ phải chịu những chế tài nghiêm khắc của pháp luật. Vậy, lừa đảo là gì? Lừa đảo bao nhiêu tiền...

Tha tù trước thời hạn dịp Tết Nguyên đán: Điều kiện và thủ tục thế nào?

Tha tù trước thời hạn dịp Tết là chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta. Việc tha tù trước thời hạn thường được thực hiện ba lần mỗi năm. Vậy, dịp Tết nguyên đán 2024, điều kiện tha tù trước thời hạn...

Chơi tài xỉu, cá cược trên các trang web có vi phạm pháp luật không?

Con trai tôi có chơi tài xỉu online với mức cược 30 triệu đồng. Vậy xin hỏi luật sư, con trai tôi có vi phạm pháp luật không và nếu có thì hình thức xử phạt sẽ như thế nào?

Tội xâm phạm mồ mả bị xử phạt như thế nào?

Xâm phạm mồ mả không chỉ là hành vi vi phạm nghiêm trọng đạo đức, thuần phong mỹ tục mà còn vi phạm điều cấm của pháp luật. Vậy, Tội xâm phạm mồ mả bị xử lý thế nào?

Không tuyên mức phạt cao nhất với tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ khi đủ các điều kiện sau đây

Mức cao nhất của khung hình phạt với tội tham ô tài sản và tội nhận hối lộ là tử hình, tuy nhiên nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây thì Tòa án sẽ không tuyên án tử hình.