Tư vấn

Hình sự

Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
Phòng vệ chính đáng được Bộ luật Hình sự 2015 quy định là hành vi chống trả lại một cách cần thiết các hành vi xâm phạm nhằm bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, người khác hoặc Nhà nước. Phòng vệ chính đáng nếu nằm trong giới hạn cho phép được xác định không phải là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, khi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, người có hành vi chống trả dù nhằm mục đích bảo vệ quyền hoặc lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015.
  1. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là gì?

Theo khoản 2 Điều 22 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: 

“Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.”

Mặt khác, điểm c khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 cũng quy định người phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng sẽ được xem xét đó là tình tiết giảm nhẹ khi truy cứu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là việc phòng vệ vi phạm điều kiện chống trả “một cách cần thiết” của phòng vệ chính đáng. 

  1. Đặc điểm của vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Từ các quy định của Bộ luật Hình sự 2015 có thể hiểu vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả mang những đặc điểm sau:

- Chống trả quá mức cần thiết;

- Không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Ví dụ: Chị A thấy anh B đang tiến lại gần mình, cho rằng anh B có ý đồ sàm sỡ chị, nên chị đã với tay lấy cây gậy bên cạnh, đập liên tục vào đầu anh B khiến anh này tử vong.

Khi đó, hành vi của chị A được xem là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng bởi hành vi này của chị A là chống trả quá mức cần thiết và không phù hợp với hành vi nguy hiểm của anh B gây ra.

  1. Xác định hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Để xác định hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, trước hết cần xác định người thực hiện có đủ điều kiện của phòng vệ chính đáng hay không? (tìm hiểu thêm về phòng vệ chính đáng tại bài viết: Phòng vệ chính đáng có phải chịu trách nhiệm hình sự?). Để xác định phòng vệ chính đáng, cần dựa trên một số điều kiện sau: 

Thứ nhất, điều kiện xác định cơ sở để phòng vệ:

  • Phải có hành vi nguy hiểm xảy ra trên thực tế và đang xâm hại đến những lợi ích hợp pháp của chủ thể phòng vệ (ví dụ: bị người khác tấn công bằng dao - hành vi nguy hiểm xâm phạm tới tính mạng).

  • Hành vi xâm hại phải là hành vi của con người đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần phải bảo vệ.

  • Phải là hành vi xâm phạm nguy hiểm đáng kể. Mức độ đáng kể tùy thuộc vào các yếu tố: tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm phạm (ví dụ: bí mật của quốc gia thì quan trọng hơn bí mật của doanh nghiệp); tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công (ví dụ: dùng súng đe dọa nguy hiểm hơn so với đe dọa bằng lời nói)

Thứ hai, điều kiện xác định tính chính đáng của hành vi phòng vệ:

  • Hành vi phòng vệ phải nhằm vào chính người có hành vi tấn công hoặc công cụ phương tiện họ đang sử dụng và thiệt hại gây ra cho chính người có hành vi tấn công chứ không được nhằm vào người khác. (Ví dụ, C tấn công B, B thoát được và chạy về phá hoại tài sản của C, như vậy không được coi là phòng vệ chính đáng)

  • Mục đích của hành vi phòng vệ phải nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự tấn công từ người khác chứ không được nhằm mục đích khác.

  • Hành vi phòng vệ phải là “cần thiết”, có tính chất tương xứng với hành vi xâm hại, không chênh lệch quá lớn giữa hành vi phòng vệ và hành vi xâm hại. Sự tương xứng được xác định trên các yếu tố: tương quan lực lượng; công cụ, phương tiện sử dụng; cường độ, thái độ tấn công; mức độ hậu quả; thời gian, địa điểm, hoàn cảnh;...

Do đó, những hành vi chống trả “rõ ràng là quá mức cần thiết”, vi phạm các điều kiện của phòng vệ chính đáng đã nêu trên có thể được xác định là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

  1. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự

Tại Khoản 2 Điều 22 Bộ luật Hình sự 2015 đã nêu rõ, người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật. Khi có hành vi chống trả vượt quá mức “cần thiết” của phòng vệ chính đáng, người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một số tội danh như sau:

  • Điều 126 Bộ luật Hình sự 2015: Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội: 

“1. Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.”

  • Điều 136 Bộ luật Hình sự 2015: Tội cố ý Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

3. Phạm tội dẫn đến chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.”

Như vậy, vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là việc người phòng vệ vi phạm các điều kiện chống trả “một cách cần thiết” của phòng vệ chính đáng. Khi vượt quá giới hạn, người có hành vi phòng vệ sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với mức độ vi phạm và hậu quả của người có hành vi vượt quá phòng vệ chính đáng gây ra.

bo-luat-hinh-su-2015.doc
bo-luat-hinh-su-2015.doc

ĐỌC THÊM

Lừa đảo và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khác nhau thế nào?

Công ty Luật TNHH PLTT sẽ phân tích hai tội danh lừa đảo và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản rõ nhất qua bài viết dưới đây:

Vi phạm pháp luật về an ninh trật tự phạt cải tạo không giam giữ được không?

Điều 36 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017), cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng...

Môi giới Forex trái phép có thể bị đi tù

Hiện nay, nước ta vẫn chưa cho phép cá nhân, tổ chức tự do kinh doanh, đầu tư ngoại hối trong nước. Vì thế, việc kinh doanh, môi giới ngoại hối trái phép tại Việt Nam có thể bị xử lý theo quy định

Khi nào người phạm tội "Nhận hối lộ" sẽ không tuyên mức phạt cao nhất?

Điều 354 Bộ luật Hình sự 2015 quy định rõ mức phạt cao nhất đối với người phạm tội "Nhận hối lộ" là bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Tội giả mạo chữ ký người khác bị xử lý thế nào?

Hiện nay, tình trạng giả mạo chữ ký khi thực hiện các giao dịch hay làm các thủ tục, giấy tờ pháp lý ngày càng nhiều. Tùy thuộc vào mức độ và hậu quả gây ra, hành vi này có thể bị xử phạt hành...

15 tuổi giết người, bị phạt thế nào?

Thời gian gần đây, có không ít vụ án giết người do người 15 tuổi thực hiện. Vậy 15 tuổi giết người bị xử lý thế nào? 15 tuổi giết người đi tù bao nhiêu năm?

Giáo viên mầm non đánh học sinh bị xử lý như thế nào?

Giáo viên mầm non đánh học sinh là hành vi vi phạm đạo đức nhà giáo đáng lên án, có thể bị phạt nặng theo quy định của pháp luật.

Có áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa đủ 75 tuổi phạm tội mà thời điểm xét xử người đó đã đủ 75 tuổi trở lên?

Có áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa đủ 75 tuổi phạm tội mà thời điểm xét xử người đó đã đủ 75 tuổi trở lên? Cách tổng hợp hình phạt với người phạm nhiều tội trong đó có hình phạt tử...

Đánh cắp, mua bán dữ liệu cá nhân có thể bị phạt tới 7 năm tù

Những chế tài xử phạt được cho là đủ mạnh mới được ban hành trong Nghị định về bảo vệ dữ liệu cá nhân mở ra hi vọng mới trong cuộc chiến chống tội phạm công nghệ cao này.

Người tổ chức sử dụng ma túy có được hoãn chấp hành án tù nếu có con dưới 3 tuổi không?

Tôi có một thắc mắc mong muốn được giải đáp: Người tổ chức sử dụng ma túy có được hoãn chấp hành án tù nếu có con dưới 3 tuổi không?

Mua bán thuốc lá điện tử có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Thực trạng mua bán thuốc lá điện tử đang diễn ra ngày càng rộng rãi, phổ biến và phức tạp. Vậy mua bán thuốc lá điện tử có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự?