Trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển vượt bậc, các hành vi lừa đảo trực tuyến nhằm chiếm đoạt tài sản đang diễn biến phức tạp với phương thức ngày càng tinh vi. Việc hiểu rõ các quy định pháp lý hiện hành không chỉ giúp người dân nâng cao cảnh giác mà còn giúp xác định rõ các khung hình phạt cũng như hình thức xử lý mà đối tượng vi phạm phải đối mặt.
Đối với những trường hợp vi phạm nghiêm trọng, người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm và giá trị tài sản bị chiếm đoạt, pháp luật phân chia thành bốn khung hình phạt tù chính. Ở mức độ cơ bản, các hành vi như đánh cắp thông tin tài khoản hay thẻ ngân hàng, lưu hành thẻ giả, truy cập trái phép tài khoản, lừa đảo qua thương mại điện tử, đầu tư kinh doanh hoặc cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông nhằm chiếm đoạt tài sản sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Khi hành vi vi phạm có tổ chức, mang tính chuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm, sử dụng từ 50 đến dưới 200 thẻ giả, hoặc chiếm đoạt tài sản từ 50 triệu đến dưới 200 triệu đồng (hoặc gây thiệt hại từ 50 triệu đến dưới 300 triệu đồng), mức phạt tù áp dụng sẽ từ hai năm đến bảy năm.
Ở các khung hình phạt nặng hơn, người phạm tội sẽ bị phạt tù từ bảy năm đến 15 năm nếu chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đến dưới 500 triệu đồng, gây thiệt hại từ 300 triệu đến dưới 500 triệu đồng, hoặc liên quan đến 200 đến dưới 500 thẻ giả. Đối với các vụ việc đặc biệt nghiêm trọng có giá trị chiếm đoạt hoặc gây thiệt hại từ 500 triệu đồng trở lên, hoặc số lượng thẻ giả từ 500 thẻ trở lên, khung hình phạt cao nhất có thể lên tới 12 năm đến 20 năm tù. Bên cạnh án phạt tù, người phạm tội còn có thể chịu các hình phạt bổ sung như phạt tiền từ 20 triệu đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc hành nghề từ một đến năm năm, hoặc bị tịch thu một phần hay toàn bộ tài sản.
Đối với những vi phạm chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Theo điểm c khoản 2 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, cá nhân có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc gian lận trong việc môi giới, giới thiệu dịch vụ mua bán nhà đất và tài sản khác ở mức độ nhẹ sẽ bị phạt tiền từ ba triệu đến năm triệu đồng. Mức phạt này áp dụng đối với vi phạm của cá nhân, trường hợp tổ chức thực hiện cùng hành vi vi phạm thì mức phạt tiền sẽ gấp hai lần, tức từ sáu triệu đến 10 triệu đồng theo khoản 2 Điều 5 của nghị định này.
Bên cạnh các quy định về xử phạt, pháp luật tố tụng cũng xác định cụ thể các trường hợp không tiến hành khởi tố vụ án hình sự theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Cơ quan chức năng sẽ không khởi tố nếu xác định không có sự việc phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm, hoặc người thực hiện hành vi chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Việc khởi tố cũng không được thực hiện khi vụ việc đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ có hiệu lực pháp luật, đã hết thời hiệu truy cứu, tội phạm được đại xá, hoặc người thực hiện hành vi đã chết (trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác). Ngoài ra, đối với một số tội danh quy định tại khoản 1 các điều luật liên quan, nếu bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu khởi tố thì cơ quan tiến hành tố tụng cũng sẽ không ra quyết định khởi tố vụ án.
Nguồn: https://luatvietnam.vn/linh-vuc-khac/lua-dao-qua-mang-chiem-doat-tai-san-bi-phat-tu-bao-nhieu-nam-883-113006-article.html