I. Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích
Căn cứ pháp lý: Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
1. Trường hợp phổ biến: Căn cứ vào tỷ lệ thương tật
Người đánh người bị truy cứu hình sự khi:
- Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe từ 11% trở lên.
2. Dưới 11% nhưng vẫn bị truy cứu hình sự
Dù tỷ lệ thương tật dưới 11%, vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các tình tiết sau:
- Dùng hung khí nguy hiểm (dao, gậy sắt, chai thủy tinh, vũ khí tự chế…);
- Dùng axit, hóa chất nguy hiểm;
- Hành vi có tính chất côn đồ;
- Đối với:
- Người dưới 16 tuổi
- Phụ nữ có thai
- Người già yếu, người không có khả năng tự vệ
- Người dưới 16 tuổi
- Đối với ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo;
- Có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp;
- Đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm;
- Thuê người khác đánh hoặc được thuê đánh người khác;
- Tái phạm nguy hiểm.
II. Trường hợp đánh người dẫn đến chết người
Có thể bị truy cứu về:
- Tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người (Điều 134), hoặc
- Tội giết người (Điều 123 BLHS), tùy ý thức chủ quan, mức độ tấn công và hành vi thực tế.
III. Trường hợp chưa đủ yếu tố hình sự
Nếu không đạt các ngưỡng trên, hành vi đánh người sẽ:
- Bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP
(phạt tiền, buộc xin lỗi công khai, bồi thường thiệt hại).