Làm giả bằng cấp, chứng chỉ là một trong những hành vi bị cấm. Theo quy định của pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, người thực hiện có thể bị phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Mức phạt hành chính
Làm giả văn bằng, chứng chỉ là một trong những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục được quy định tại Nghị định 138/2013/NĐ-CP.
Cụ thể, Điều 16 Nghị định 138 quy định, phạt tiền từ 20 - 40 triệu đồng đối với hành vi làm giả văn bằng, chứng chỉ. Đồng thời, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm.
Ngoài ra, cũng theo Điều 16, người có hành vi mua bán, sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả có thể bị phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng.
Mức phạt khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Ngoài quy định về xử phạt hành chính, người thực hiện hành vi làm giả bằng cấp, chứng chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức.
Cụ thể, Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức như sau:
Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức thì bị phạt tiền từ 30 - 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
- Có tổ chức;
- Phạm tội 02 lần trở lên;
- Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác;
- Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;
- Thu lợi bất chính từ 10 đến dưới 50 triệu đồng;
- Tái phạm nguy hiểm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
- Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên;
- Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
- Thu lợi bất chính 50 triệu đồng trở lên.
Ngoài ra, người phạm tội này còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 05 - 50 triệu đồng.
Như vậy, nếu bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy vào mức độ vi phạm, người làm văn bằng, chứng chỉ giả có thể bị phạt tiền đến 100 triệu đồng hoặc phạt tù đến 07 năm.
Sử dụng bằng cấp giả, chứng chỉ giả để đi xin việc sẽ bị xử lý như thế nào?
Việc sử dụng bằng cấp giả hoặc chứng chỉ giả để xin việc là hành vi vi phạm pháp luật có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng về mặt pháp lý. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, những hành vi này có thể bị xử lý theo các hình thức sau đây:
- Vi phạm hành chính: Theo Điều 22 của Nghị định 115/2020/NĐ-CP, người sử dụng giấy tờ giả mạo (bao gồm bằng cấp và chứng chỉ) có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Ngoài việc bị phạt tiền, người vi phạm còn có thể bị cơ quan chức năng tịch thu những tang vật liên quan đến hành vi vi phạm như bằng cấp giả, chứng chỉ giả.
- Vi phạm hình sự: Nếu hành vi sử dụng bằng cấp giả hoặc chứng chỉ giả được xem là nghiêm trọng hơn và có tính chất xâm phạm nghiêm trọng hơn đến quyền lợi của cộng đồng và sự tin tưởng của xã hội, có thể bị xử lý hình sự theo các điều của Bộ luật Hình sự năm 2015.
+ Tội sử dụng con dấu, tài liệu giả (Điều 342 BLHS):
Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Phạt cải tạo không giam giữ từ 6 tháng đến 2 năm.
Phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm.
Những hình phạt này không chỉ gây tổn hại về mặt tài chính mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín của cá nhân trong cộng đồng xã hội và trong lĩnh vực nghề nghiệp mà họ đang hoạt động. Ngoài ra, sau khi bị xử lý hình sự, hồ sơ vi phạm sẽ được lưu trữ và có thể gây khó khăn cho các hoạt động xã hội và nghề nghiệp sau này của người bị kết án.