Tư vấn

Hình sự

Một số vướng mắc, bất cập về tội "Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả"
Một số vướng mắc, bất cập về tội "Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả"
(LSVN) – Trong những năm gần đây, tội phạm lưu hành tiền giả ngày càng gia tăng và diễn biến vô cùng phức tạp.

Theo Khoản 2 Điều 2 Quyết định số 130/2003/QĐ-TTg ngày 30/6/2003 của Chính phủ đưa ra khái niệm tiền giả như sau: “Tiền giả là những loại tiền được làm giống như tiền Việt Nam nhưng không phải Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức in, đúc, phát hành”. Trong khi đó, khái niệm tiền giả tại điểm 3 Mục I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao có nội hàm rộng hơn, cụ thể là tiền giả bao gồm “Tiền Việt Nam đồng giả và ngoại tệ giả; ngân phiếu giả, công trái giả bao gồm ngân phiếu, công trái giả ngân phiếu, công trái của Việt Nam hoặc của nước ngoài phát hành, nhưng có giá trị thanh toán tại Việt Nam”. Khái niệm tiền giả gần đây được quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư số 28/2013/TT-NHNN ngày 05/12/2013 của Ngân hàng Nhà nước và gần như trùng khít với khái niệm tiền giả được quy định tại Quyết định số 130/2003/QĐ-TTg ngày 30/6/2003.

Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 3 Thông tư số 28/2013/TT-NHNN còn quy định “Tiền giả loại mới là loại tiền giả chưa được Ngân hàng Nhà nước (hoặc Bộ Công an) thông báo bằng văn bản”. Như vậy, đây chính là các văn bản pháp luật quan trọng đưa ra khái niệm tiền giả và các văn bản còn hiệu lực pháp luật là cơ sở để cơ quan tố tụng áp dụng nhằm xử lý các hành vi “làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả”.

Định nghĩa trên cũng chưa thể hiện được tính đầy đủ về bản chất của tiền giả theo pháp luật hình sự Việt Nam bởi ngoài tiền của Nhà nước Việt Nam phát hành thì còn có các đối tượng tiền giả là tiền của nước ngoài nhưng có giá trị thanh toán tại Việt Nam.

Tội "Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả" được quy định tại Điều 207 BLHS. Theo đó, người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Phạm tội trong trường hợp tiền giả có trị giá tương ứng từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm. Phạm tội trong trường hợp tiền giả có trị giá tương ứng từ 50.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Một số vưỡng mắc, bất cập của tội "Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả"

Thứ nhất, Điều 207 BLHS không quy định giới hạn tối thiểu mệnh giá ghi trên tiền giả tương đương giá trị tiền thật là bao nhiêu để truy cứu TNHS, đồng thời không có quy định nào về xử phạt vi phạm hành chính về hành vi lưu hành tiền giả, nên nếu lưu hành tiền giả có giá trị tương đương tiền thật dưới 5 triệu đồng (bất kể là bao nhiêu, có thể là 200 đồng, 2000 đồng hay 20.000 đồng...) thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm; từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm; từ 50 triệu đồng trở lên bị phạt tù từ 10 đến 20 năm.

Như vậy, theo quy định của BLHS thì tội "Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả" không có mức định lượng tối thiểu và chỉ có mức định lượng tối đa để định khung hình phạt. Có nghĩa là nếu một người có hành vi lưu hành tiền giả với giá trị thấp từ hai trăm đồng hoặc năm trăm đồng hoặc năm ngàn đồng, hai mươi ngàn đồng ... đến dưới năm triệu đồng thì bị truy tố theo khoản 1 Điều 207 BLHS về tội "Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả", với điều kiện là có đủ căn cứ để xác định được là họ mặc dù biết là tiền giả nhưng vẫn cố ý lưu hành.

Tuy nhiên vẫn có ý kiến cho rằng cần phải quy định mức tối thiểu đối với tội "Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả" và quy định hình thức xử phạt hành chính đối với hành vi lưu hành tiền giả khi trị giá tiền giả lưu hành nhỏ. Nếu chúng ta không quy định mức tối thiểu của Điều luật (Điều 207 BLHS), đồng thời không quy định xử phạt hành chính về hành vi lưu hành tiền giả với mệnh giá thấp (200 đồng, 5000 đồng, 20.000 đồng ...) thì khi gặp những trường hợp này các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ rất lúng tùng khi giải quyết. Truy tố người có hành vi lưu hành tiền giả với mệnh giá thấp thì không nỡ, xử lý hành chính thì không có quy định; mà nếu truy tố số lượng rất nhiều.

Thứ hai là vấn đề về áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” trong xét xử các tội "Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả". Theo tinh thần Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP, hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 1999, đối với người nhiều lần lưu hành tiền giả thì cần phải lấy tổng số lượng tiền giả các lần phạm tội cộng lại để xem xét trách nhiệm hình sự đối với họ; nếu các lần phạm tội đó đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì không xem xét trách nhiệm hình sự đối với trượng hợp đó (không cộng số lượng tiền giả của lần phạm tội đó); nếu có hai lần phạm tội "Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả" trở lên thì ngoài việc cộng số lượng tiền giả của các lần phạm tội đó để xem xét trách nhiệm hình sự, còn phải áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên.

Tuy nhiên, trong thực tiễn có nhiều trường hợp rất khó áp dụng vì nảy sinh vấn đề như sau. Ví dụ: Khi người phạm tội cố ý đem 5.000.000 đồng đi tiêu thụ, họ tiêu thụ 03 lần mỗi lần 200.000 đồng đến lần thứ ba thì bị phát hiện, thì khi xét xử họ về tội "Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả" với tổng số tiền 5.000.000 đồng theo khoản 2 Điều 207 hay tổng 03 lần tiêu thụ 600.000 đồng theo khoản 1 Điều 207. Nếu xét xử họ với số tiền 5.000.000 đồng thì có áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên hay không.

Vấn đề này có 2 quan điểm như sau: (i) Nếu xét xử họ với số tiền 5.000.000 đồng thì không áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên; (ii) Nếu xét xử họ áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên thì không được xử họ với số tiền 5.000.000 đồng mà là 600.000 đồng.

Qua nghiên cứu, phân tích một số vấn đề trong xét xử các tội "Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả" như đã nêu trên, tác giả đề xuất nên sửa lại khoản 1 Điều 207 BLHS như sau: “Người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả có giả trị từ 500.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng hoặc dưới 500.000 đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.” Đồng thời bổ sung thêm quy định về hình thức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lưu hành tiền giả có giá trị dưới 500.000 đồng.

HOÀNG ANH TUẤN

Tòa án quân sự Quân khu 7

ĐỌC THÊM

Phân biệt tội phạm và phạm tội

Hành vi phạm tội là một trong những dấu hiệu quan trọng để nhận biết tội phạm, phân loại tội phạm theo bộ luật hình sự. Vậy tội phạm và phạm tội khác nhau ở điểm nào?

Trường hợp nào không chấp hành án bị đi tù?

Người có đủ điều kiện nhưng cố tình không chấp hành bản án có thể bị xử lý hình sự về Tội không chấp hành bản án quy định tại Bộ luật Hình sự 2015. Vậy, trường hợp nào bị xử lý hình sự?

Vi phạm quy định về đấu thầu và mức phạt đang áp dụng hiện nay

Những hành vi vi phạm quy định về đấu thầu sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định pháp luật. Việc phải chịu trách nhiệm hành chính hay bị xử lý hình sự phụ thuộc vào hành vi của chủ thể tham gia. Vậy, mức...

Nhận diện hành vi tội cướp tài sản hay tội cưỡng đoạt tài sản

Tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản là hai tội danh thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu, mặc dù Bộ luật hình sự (BLHS) và các văn bản hướng dẫn đã có nhiều quy định thi hành, tuy nhiên trong thực...

Các trường hợp Việt Nam từ chối dẫn độ cho nước

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì người bị yêu cầu dẫn độ không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành hình phạt do đã hết thời hiệu hoặc vì những lý do hợp pháp khác...

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn có bị coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hay không?

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 bao gồm: Phạm tội có tổ chức; Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;...

Đánh cắp, mua bán dữ liệu cá nhân có thể bị phạt tới 7 năm tù

Những chế tài xử phạt được cho là đủ mạnh mới được ban hành trong Nghị định về bảo vệ dữ liệu cá nhân mở ra hi vọng mới trong cuộc chiến chống tội phạm công nghệ cao này.

Đánh ngất người khác rồi lấy tài sản phạm tội gì?

Theo quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015. thì một trong các hành vi khách quan của tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực. Hành vi dùng vũ lực được hiểu là hành vi hành động dùng sức...

Vay tiền rồi bỏ trốn có phạm tội không?

Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng hợp pháp (hình thức của hợp đồng có thể bằng văn bản hoặc bằng miệng) rồi dùng thủ đoạn gian dối...

Xem phim lậu có bị xử phạt không?

Xem và phân phối phim lậu là hiện tượng rất phổ biến ở Việt Nam hiện nay. Vậy, phim lậu là gì? Xem phim lậu có bị xử phạt không?

Có mấy biện pháp giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội có thể được áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự?

Có mấy biện pháp giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội có thể được áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự? Đó là các biện pháp nào?

Cách xác định tỷ lệ phần trăm thương tật trong vụ án hình sự thế nào?

Việc xác định tỷ lệ phần trăm thương tật có ý nghĩa quan trọng để truy cứu trách nhiệm hình sự, quyết định khung hình phạt đối với người có hành vi phạm tội. Vậy, cách xác định tỷ lệ phần trăm thương tật trong...

Cược chấp là gì? Cá độ bóng đá bị phạt bao nhiêu tiền?

Cược chấp là gì? Cá độ bóng đá thì bị phạt bao nhiêu năm tù? Cá độ bóng đá bị phạt bao nhiêu tiền?

Đổ, ném chất thải vào nhà, nơi ở của người khác bị xử phạt vi phạm hành chính như thế nào?

Hành vi cố tình ném hỗn hợp các loại chất thải, chất bẩn vào nhà của người khác là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ...