Em có vấn đề thắc mắc rất mong nhận được sự giải đáp như sau: Em có quen một chị, ban đầu chỉ là gặp vài lần thành quen, sau đó một lần tình cờ gặp tại quán cafe và nói chuyện, chị đó biết công việc em làm không ổn định, nên bảo có thể giúp em xin vào một cơ quan nhà nước.
Sau đó, em lưỡng lự nên thôi, bẵng đi khoảng 1 tháng sau, chị ta gọi điện cho em, bảo có chỗ làm tốt, bảo em gửi hồ sơ cho chị ta và đưa trước 3 triệu để lo tiền nước, em đưa chị ta hồ sơ và tiền. Nhưng đến 2 tháng sau chị ta lại gọi bảo em chỗ đó không tốt lắm nên gửi hồ sơ vào một chỗ tốt hơn, em cũng tin. sau đó chị ta bảo em là hồ sơ đã được thẩm định, được chấp nhận rồi, chờ đi làm thôi. Chị ta bảo bây giờ đưa trước chị ta 40 triệu để lo cho người ta và ra quyết định. Em đưa chị ta 40 triệu (lúc em đưa tiền có cả chồng chị ta). Nhưng cả tháng sau không thấy gì, em gặp chị ta em hỏi, chị ta bảo để chị ta hỏi lại và trả lời liền, hai ngày sau chị ta gọi em lên và bảo công việc gần xong nhưng phải đưa thêm 10 triệu, em bảo không có tiền thì chị ta bảo chị ta cho mượn đưa người ta rồi từ từ em trả lại. Sau đó 1 tuần chị ta gọi điện bảo em đưa trả tiền chị ta vì chị ta đã lo việc cho em và đang cần tiên. Em tin tưởng chị ta vì chị này là ở chi cục thi hành án mà gia đình cũng tốt nhưng sau khi lấy đủ tiền em thì đến gần 5 tháng sau em không thấy quyết định ở đâu hết, trong thời gian này em hỏi chị ta, thì chị ta viện đủ lí do là nơi em nộp hồ sơ đang bận công việc.
Đến tháng 8/2015 em phát hiện chị ta làm hồ sơ chuyển công tác vào thành phố Hồ Chí Minh, nên em bảo chị phải trả lời dứt khoát, thì lúc này chị ta hẹn đi gặp chỗ em xin việc rồi trả lời. Hôm sau chị ta bảo em chỗ công việc đó không xong rồi, và chị ta hứa sẽ trả tiền lại cho em. Tuy nhiên từ tháng 9/2016 đến nay, em bảo chị ta trả tiền cho em thì chị ta cứ hẹn lần lữa hết lần này đến lần khác, có khi còn bảo chồng gọi để hẹn nợ. Em uất quá, giờ em đang cần tiền gọi chị ta trả thì chị ta không nghe máy, nhắn tin không trả lời? Theo luật sư, những hành vi trên của chị ta có cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không?
- Nếu bây giờ em muốn khởi kiện chị ta thì cần những thủ tục gì? Em có lưu những đoạn tin nhắn trao đổi đòi tiền qua lại giữa em và chị ta, cũng như một đoạn ghi âm.
Rất mong nhận được sự tư vấn. Em xin cảm ơn!
Trả lời
Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn đã đưa cho người khác tổng số tiền là 43 triệu đồng để nhờ xin việc.Tuy nhiên thì sau một quãng thời gian dài bạn vẫn không có kết quả và người này có dấu hiệu không trả lại tiền cho bạn. Với trường hợp của bạn, chúng tôi tư vấn cho bạn hai khả năng như sau:
- Nếu khi đưa tiền, bạn và người này kí với nhau hợp đồng vay tài sản thì hợp đồng này sẽ bị tuyên bố vô hiệu. Như vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 131 , Bộ luật dân sự 2015 thì các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và khôi phục lại tình trạng ban đầu.
"Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả."
Như vậy, người nhận chạy việc cho bạn sẽ phải hoàn trả lại cho bạn số tiền 20 triệu đồng đã nhận từ bạn. Nếu người này nhất định không trả thì bạn có quyền kiện ra Tòa để đòi lại số tiền đã đưa. Khi nộp đơn thì bạn sẽ phải đưa kèm theo các chứng cứ như những đoạn tin nhắn đòi tiền trao đổi giữa bạn và người này và bản ghi âm các cuộc gọi đòi tiền.
- Nếu giữa bạn và người này không có hợp đồng vay tài sản và người này không trả tiền thì bạn có quyền yêu cầu cơ quan công an khởi tố người này về tội lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sư 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (vì người này làm việc tại cơ quan thi hành án):
"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức";
"Điều 354. Tội nhận hối lộ
1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Lợi ích phi vật chất.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng;
đ) Phạm tội 02 lần trở lên;
e) Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước;
g) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:
a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.
5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
6. Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà nhận hối lộ, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này".
theo thu vien quoc gia