Để tạo lập ra hợp đồng, các chủ thể phải trải qua nhiều quá trình đàm phán và thỏa thuận. Căn cứ vào tính chất thời gian xảy ra trước khi có hợp đồng, chúng ta có thể gọi giai đoạn này là tiền hợp đồng. Trong giai đoạn này, các bên chưa chịu sự ràng buộc bởi hợp đồng mà các bên muốn xác lập nhưng giữa họ đã có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau.
1. Nghĩa vụ cung cấp thông tin
Thông tin đóng vai trò then chốt cho việc thỏa thuận và lựa chọn các yếu tố quan trọng của hợp đồng. Giúp các bên hiểu rõ về nhau cũng như hiểu rõ về sản phẩm hay dịch vụ mà họ đang thảo luận và hướng dẫn họ đưa ra quyết định về phạm vi cụ thể của hợp đồng.
Theo Điều 387 BLDS 2015: “Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết… Bên vi phạm (…)mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.
Có thể thấy, BLDS năm 2015 rất coi trọng nhiệm vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng. Thông tin chính là yếu tố quyết định sự thành bại của hợp đồng dân sự, và việc không cung cấp thông tin đầy đủ và trung thực có thể gây ra các vấn đề pháp lý nghiêm trọng khi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng.
2. Nghĩa vụ bảo mật thông tin
Để đạt được thỏa thuận trong giai đoạn tiền hợp đồng, các bên cần chia sẻ thông tin quan trọng về nội dung và mục tiêu của hợp đồng. Những thông tin dạng này thường là những thông tin mật, sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến bên đó nếu được công khai.
Khoản 2 Điều 387 của BLDS 2015 quy định: “Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác”.
Có thể thấy mỗi bên trong hợp đồng cần có nghĩa vụ bảo mật thông tin của nhau trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng để tránh gây ra những tổn thất không đáng có, ảnh hưởng tới chính việc đàm phàn tiến hợp đồng nói riêng và ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích của các bên nói chung.
3. Nghĩa vụ của các bên trong đề nghị giao kết hợp đồng
Sau khi nhận được thông tin, để tiếp tục đàm phán thỏa thuận, các bên cần xác định rõ mong muốn, mục tiêu giao kết hợp đồng của mình, những quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên trong giao kết hợp đồng thông qua những đề nghị cụ thể.
Theo Khoản 1 Điều 386 BLDS 2015 quy định: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị)”.
Trên cơ sở đó, các bên có thể tiếp tục đàm phán, thỏa thuận và đi tới ký kết hợp đồng.
Ngoài ra, những quy định ràng buộc về việc đề nghị giao kết hợp đồng cũng tạo ra sự chuyên nghiệp và hạn chế những rủi ro trong giai đoạn tiền hợp đồng.
4. Nghĩa vụ của các bên trong chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Gắn với nghĩa vụ đề nghị giao kết hợp đồng, để hợp đồng được chính thức ký kết, bên được đề nghị cần có nghĩa vụ chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và được quyền đưa ra đề nghị ngược lại đối với bên đề nghị.
Nghĩa vụ này thể hiện thiện chí hợp tác, đánh dấu các cột mốc đàm phán thỏa thuận giữa các bên và tạo ra hành lang pháp lý đảm bảo những yêu cầu, đề nghị của các bên được trả lời.
theo thu vien phap luat