Ảnh minh họa (AI)
Mục đích cốt lõi của việc nuôi con nuôi là bảo đảm quyền lợi tối thượng cho trẻ em, giúp người được nhận làm con nuôi có môi trường gia đình lành mạnh để chăm sóc, giáo dục và phát triển toàn diện. Nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ cũng như phòng ngừa các hành vi trục lợi, Điều 13 Luật Nuôi con nuôi 2010 nghiêm cấm hàng loạt hành vi lợi dụng việc nhận con nuôi. Các hành vi bị cấm bao gồm lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục, bắt cóc hoặc mua bán trẻ em; làm giả hồ sơ giấy tờ; phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi; vi phạm chính sách pháp luật về dân số; lợi dụng tư cách con nuôi để hưởng ưu đãi dành cho người có công hoặc dân tộc thiểu số; cũng như việc ông bà nhận cháu hay anh chị em ruột nhận nhau làm con nuôi. Ngoài ra, mọi hành vi trái với thuần phong mỹ tục, đạo đức và truyền thống văn hóa dân tộc cũng bị cấm hoàn toàn.
Đối tượng được nhận làm con nuôi được pháp luật quy định cụ thể về độ tuổi nhằm bảo đảm tính phù hợp về mặt xã hội và tâm lý. Về nguyên tắc chung, chỉ có trẻ em dưới 16 tuổi mới thuộc diện được nhận làm con nuôi. Tuy nhiên, pháp luật vẫn cho phép hai trường hợp ngoại lệ người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được nhận làm con nuôi, bao gồm trường hợp được cha dượng, mẹ kế nhận làm con riêng của vợ hoặc chồng, hoặc được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi. Những người từ đủ 18 tuổi trở lên hoàn toàn không thuộc đối tượng được nhận làm con nuôi theo quy định hiện hành.
Đối với người nhận con nuôi, pháp luật đề ra các điều kiện khắt khe để bảo đảm năng lực nuôi dưỡng. Cụ thể, người nhận nuôi phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, tư cách đạo đức tốt, có đủ điều kiện sức khỏe, kinh tế, chỗ ở và hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên. Đồng thời, người này không thuộc diện đang bị hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc đang chấp hành hình phạt tù, biện pháp xử lý hành chính. Mặc dù vậy, trường hợp cha dượng, mẹ kế nhận con riêng hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi sẽ được miễn trừ điều kiện về khoảng cách 20 tuổi cũng như các yêu cầu về sức khỏe, kinh tế và chỗ ở.
Về thẩm quyền và quy trình thực hiện, việc đăng ký nhận con nuôi trong nước do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người nhận hoặc người được nhận làm con nuôi giải quyết. Đối với trường hợp có yếu tố nước ngoài, thẩm quyền thuộc về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, còn công dân Việt Nam tạm trú ở nước ngoài sẽ thực hiện tại cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam. Người nhận nuôi cần chuẩn bị bộ hồ sơ gồm đơn xin nhận con nuôi, bản sao giấy tờ nhân thân, lý lịch tư pháp, xác nhận tình trạng hôn nhân, giấy khám sức khỏe và văn bản xác nhận điều kiện kinh tế, chỗ ở. Hồ sơ của trẻ em bao gồm giấy khai sinh, giấy khám sức khỏe và ảnh chụp theo quy định. Các giấy tờ xác nhận hoàn cảnh, sức khỏe có giá trị sử dụng trong vòng sáu tháng kể từ ngày nộp. Sau khi tiếp nhận đủ hồ sơ, cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, lấy ý kiến đồng ý của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ theo quy định. Khi đáp ứng đủ điều kiện, Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ thực hiện việc đăng ký, tổ chức lễ giao nhận con nuôi trực tiếp và cấp Giấy chứng nhận nuôi con nuôi bản giấy cũng như bản điện tử cho các bên.
Về nghĩa vụ tài chính, mức thu lệ phí đăng ký nhận con nuôi được áp dụng cụ thể theo từng đối tượng. Việc đăng ký nhận con nuôi trong nước có mức lệ phí là 400.000 đồng cho mỗi trường hợp. Người Việt Nam định cơ ở nước ngoài hoặc người nước ngoài thường trú tại nước ngoài nhận công dân Việt Nam làm con nuôi áp dụng mức lệ phí 9.000.000 đồng. Trường hợp người nước ngoài thường trú tại Việt Nam hoặc cư trú ở khu vực biên giới nhận con nuôi áp dụng mức thu 4.500.000 đồng, còn việc đăng ký tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài áp dụng mức thu 150 USD. Bên cạnh đó, các tổ chức nuôi con nuôi nước ngoài khi thực hiện thủ tục cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam phải nộp lệ phí 65.000.000 đồng đối với cấp lần đầu và 35.000.000 đồng khi làm thủ tục gia hạn.
Nguồn: https://luatvietnam.vn/dan-su/thu-tuc-nhan-con-nuoi-moi-nhat-568-23594-article.html#google_vignette