1. Lãi suất trong giao dịch vay dân sự (vay giữa cá nhân với nhau)
Căn cứ: Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
-
Hai bên được quyền thỏa thuận lãi suất.
-
Trần lãi suất tối đa: 20%/năm của khoản tiền vay (tức ~1,67%/tháng).
-
Nếu thỏa thuận lãi cao hơn ⇒ phần vượt quá không có hiệu lực.
Ví dụ: Bạn cho vay 100 triệu, thỏa thuận 3%/tháng (36%/năm).
→ Chỉ 20%/năm được pháp luật công nhận; 16%/năm phần vượt bị vô hiệu.
Thu lãi trên 5 lần mức 20%/năm (tức >100%/năm)
→ Có dấu hiệu Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo Điều 201 Bộ luật Hình sự.
2. Lãi suất cho vay của ngân hàng, công ty tài chính
Căn cứ: Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi 2017, 2024).
Đặc điểm quan trọng:
-
Ngân hàng không bị khống chế mức trần 20%/năm.
-
Lãi suất được thỏa thuận theo cung – cầu vốn, rủi ro tín dụng, và quy định của Ngân hàng Nhà nước.
-
Các TCTD phải niêm yết, công khai lãi suất cho vay.
⇒ Có nghĩa: Lãi suất ngân hàng không có trần cố định, chỉ cần minh bạch và không trái với quy định điều hành của NHNN.
Nhưng vẫn có giới hạn đối với một số khoản vay:
-
Vay ưu đãi chính sách
-
Vay hỗ trợ nhà ở
-
Vay sản xuất – kinh doanh trong thời kỳ bị áp trần lãi suất bằng văn bản của NHNN
→ Các trường hợp này sẽ tuân theo mức trần do NHNN quy định từng thời kỳ.
3. Lãi suất chậm trả, phạt chậm trả (dân sự và tín dụng)
Theo Điều 357 & 468 BLDS 2015:
-
Nếu có thỏa thuận lãi suất ⇒ lãi chậm trả = 150% lãi suất thỏa thuận.
-
Nếu không thỏa thuận ⇒ lãi chậm trả = 150% lãi suất cơ bản (20%/năm)