Trách nhiệm hành chính
Trong trường hợp tai nạn giao thông xảy ra do lỗi của người gây ra tai nạn vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ như vượt đèn đỏ, chạy quá tốc độ, tham gia giao thông khi đã uống rượu, bia,… thì tùy trường hợp sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi nghị định 123/2021/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.
Hình thức xử phạt là phạt tiền và có thể bị áp dụng thêm các biện pháp khắc phục hậu quả theo Điều 4 Nghị định 100/2019/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi nghị định 123/2021/NĐ-CP:
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra;
- Buộc phá dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép;
- Buộc thực hiện biện pháp để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do vi phạm hành chính gây ra;
- Buộc tái xuất phương tiện khỏi Việt Nam;
- Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính;
- Các biện pháp khắc phục hậu quả khác
Trách nhiệm hình sự
Ngoài việc phải chịu trách nhiệm hành chính về hành vi vi phạm giao thông của mình thì người gây ra tai nạn còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) trong các trường hợp sau:
- Tai nạn giao thông làm chết người;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
- Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
- Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến một trong các hậu quả nêu trên nếu không được ngăn chặn kịp thời.
Không có giấy phép lái xe, hay lái xe khi đã sử dụng rượu, bia quá mức cho phép, sử dụng ma túy, chất kích thích… đều là những tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hình phạt cao nhất đối với tội danh này có thể lên tới 15 năm. Do đó, khi đã tham gia giao thông thì nên chấp hành đúng quy định của pháp luật về giao thông đường bộ.
Trách nhiệm dân sự
Không chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính và hình sự, người gây ra tai nạn phải chịu trách nhiệm dân sự thông qua việc bồi thường thiệt hại cho người bị tai nạn do tài sản, sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm.
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015: Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường.
Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại phải tuân thủ theo nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có quyền thỏa thuận với nhau về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường. Nguyên tắc này được quy định tại khoản 1 Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015.
Khi xảy ra tai nạn giao thông, người bị tai nạn có thể bị thiệt hại về tài sản, sức khỏe, thậm chí là cả tính mạng. Về các khoản tiền được bồi thường thiệt hại được xác định trong Bộ luật Dân sự 2015, như sau:
- Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm – Điều 589
- Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm – Điều 590
- Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm – Điều 591
Như vậy, khi người bị tai nạn bị thiệt hại về khoản nào, sẽ được người gây tai nạn bồi thường thiệt hại về khoản đó.
Người có trách nhiệm bồi thường khi thuê xe tự lái gây tai nạn
Căn cứ theo Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:
- Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.
- Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Như vậy, trường hợp thuê xe tự lái đồng nghĩa với việc chủ sở hữu đã giao xe cho người khác chiếm hữu, sử dụng. Do đó, khi thuê xe tự lái gây tai nạn thì người thuê xe này phải có trách nhiệm bồi thường, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015 cụ thể:
• Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
• Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.