Tư vấn

Dân sự

Nghiêm cấm Luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng vụ, việc
Nghiêm cấm Luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng vụ, việc
Luật sư chỉ được thực hiện dịch vụ pháp lý cho một người.

Khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư quy định nghiêm cấm Luật sư thực hiện các hành vi sau đây:

- Cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng vụ án hình sự, vụ án dân sự, vụ án hành chính, việc dân sự, các việc khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là vụ, việc);

- Cố ý cung cấp hoặc hướng dẫn khách hàng cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật; xúi giục người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đương sự khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện trái pháp luật;

- Tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác;

- Sách nhiễu, lừa dối khách hàng;

- Nhận, đòi hỏi thêm bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ khách hàng ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý;

- Móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức, viên chức khác để làm trái quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ, việc;

- Lợi dụng việc hành nghề luật sư, danh nghĩa luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

- Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích khác khi thực hiện trợ giúp pháp lý cho các khách hàng thuộc đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật; từ chối vụ, việc đã đảm nhận theo yêu cầu của tổ chức trợ giúp pháp lý, của các cơ quan tiến hành tố tụng, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc theo quy định của pháp luật;

- Có lời lẽ, hành vi xúc phạm cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình tham gia tố tụng;

- Tự mình hoặc giúp khách hàng thực hiện những hành vi trái pháp luật nhằm trì hoãn, kéo dài thời gian hoặc gây khó khăn, cản trở hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác.

Như vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư, nghiêm cấm Luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng vụ án hình sự, vụ án dân sự, vụ án hành chính, việc dân sự, các việc khác theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, theo khoản 15.3 Quy tắc 15 Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam, Luật sư phải từ chối tiếp nhận vụ việc hoặc từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc trong các trường hợp sau đây:

“15.3.1. Vụ việc trong đó các khách hàng có quyền lợi đối lập nhau;

15.3.2. Vụ việc trong đó khách hàng mới có quyền lợi đối lập với khách hàng hiện tại; vụ việc khác của khách hàng là người đang có quyền lợi đối lập với khách hàng hiện tại trong vụ việc luật sư đang thực hiện.

15.3.3. Vụ việc trong đó khách hàng mới có quyền lợi đối lập với khách hàng cũ trong cùng một vụ việc hoặc vụ việc khác có liên quan trực tiếp mà trước đó luật sư đã thực hiện cho khách hàng cũ;

15.3.4. Vụ việc của khách hàng có quyền lợi đối lập với quyền lợi của luật sư hoặc cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em của luật sư;

15.3.5. Vụ việc mà luật sư đã tham gia giải quyết với tư cách người tiến hành tố tụng, cán bộ, công chức khác trong cơ quan nhà nước, trọng tài viên, hòa giải viên;

15.3.6. Vụ việc của khách hàng do cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em của luật sư đang cung cấp dịch vụ pháp lý có quyền lợi đối lập với khách hàng của luật sư;

15.3.7. Trường hợp luật sư không được nhận hoặc thực hiện vụ việc cho khách hàng quy định tại Quy tắc 15.3 này, luật sư khác đang làm việc trong cùng tổ chức hành nghề luật sư cũng không được nhận hoặc thực hiện vụ việc, trừ trường hợp tại Quy tắc 15.3.4 và 15.3.6”.

Như vậy, Luật sư không thể cung cấp dịch vụ cho cả hai bên mà quyền và lợi ích của họ đối lập nhau. Luật sư nên giải thích cho họ về vấn đề này nếu gặp phải trường hợp cả hai bên đều đến tìm mình để sử dụng dịch vụ.

 

ĐỌC THÊM

Pháp nhân có quyền để lại di chúc không?

Di chúc là văn bản thể hiện mong muốn để lại tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Vậy pháp nhân có quyền để lại di chúc không? Pháp luật quy định vấn đề này như thế nào?

Một người có hai tờ giấy khai sinh thì làm căn cước như thế nào?

Cháu nhà tôi có hai tờ giấy khai sinh khác nhau và hiện cháu muốn làm CCCD; cho tôi hỏi trong trường hợp này tôi cần thực hiện thủ tục như thế nào để có thể cấp được CCCD cho cháu

Tháo gỡ vướng mắc trong lĩnh vực hộ tịch, quốc tịch, chứng thực

Sáng 8/11, Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội nghị trực tuyến chuyên đề lĩnh vực hộ tịch, quốc tịch, chứng thực với sự chủ trì của Thứ trưởng Mai Lương Khôi. Điều hành Hội nghị có ông Nguyễn Thanh Hải, Cục trưởng Cục Hộ...

Có cần nộp lại CCCD cũ khi làm CCCD mới ? Không nộp lại Căn cước công dân khi làm thẻ Căn cước có bị phạt?

Không nộp lại Căn cước công dân khi làm thẻ Căn cước có bị phạt không?

Bộ Công an nêu chế tài về việc đưa hình ảnh người khác lên mạng xã hội nhằm bôi nhọ

Việc cố tình quay lại các video về đời sống riêng tư của người khác, sau đó chia sẻ các hình ảnh đó nhằm bôi nhọ nhân phẩm, danh dự của họ có thể bị xử lý hình sự.

Hợp đồng uỷ quyền đất đai có bị mất hiệu lực khi chứng minh nhân dân hết hạn?

Hợp đồng uỷ quyền đất đai có bị mất hiệu lực khi chứng minh nhân dân hết hạn?

Chế độ tử tuất

Bài viết sau đây sẽ làm rõ một số vấn đề về chế độ tử tuất theo quy định của pháp luật hiện hành.

Những trường hợp căn cước điện tử bị khóa

05 trường hợp căn cước điện tử bị khóa được quy định tại Luật Căn cước 2023 có hiệu lực từ ngày 01/7/2024

Trách nhiệm dân sự của thành viên hợp tác thực hiện như thế nào?

Các thành viên hợp tác chịu trách nhiệm dân sự chung bằng tài sản chung

Mất xe ở chung cư ai là người chịu trách nhiệm?

Thời gian gần đây, tình trạng mất xe khi gửi trong các toà chung cư diễn ra khá phổ biến. Vậy trong trường hợp đó, ai sẽ là người chịu trách nhiệm? Người bị mất xe có được bồi thường thiệt hại không?

Người chưa có thẻ căn cước cấp tài khoản định danh điện tử như thế nào?

Người chưa có thẻ căn cước muốn làm tài khoản định danh điện tử thì sẽ thực hiện đồng thời 2 thủ tục gồm cấp thẻ căn cước và cấp tài khoản định danh điện tử theo quy định của pháp luật