Tư vấn

Dân sự

Sau khi Hội đồng trọng tài đưa ra phán quyết trọng tài thì các bên có quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài không?
Sau khi Hội đồng trọng tài đưa ra phán quyết trọng tài thì các bên có quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài không?
Sau khi Hội đồng trọng tài đưa ra phán quyết trọng tài thì các bên có quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài không?

Phán quyết trọng tài là gì?
Khoản 10 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định về khái niệm phán quyết trọng tài cụ thể như sau:
10. Phán quyết trọng tài là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài.

Sau khi Hội đồng trọng tài đưa ra phán quyết trọng tài thì các bên có quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài không?
Sau khi Hội đồng trọng tài đưa ra phán quyết trọng tài thì các bên hoàn toàn có quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài nêu như phán quyết ấy các bên cảm thấy gây bất lợi cho mình. Căn cứ pháp lý cho vấn đề trên được quy định tại Điều 69 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định cụ thể như sau:

Điều 69. Quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài
1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, nếu một bên có đủ căn cứ để chứng minh được rằng Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 của Luật này, thì có quyền làm đơn gửi Toà án có thẩm quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài. Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là có căn cứ và hợp pháp.
2. Trường hợp gửi đơn quá hạn vì sự kiện bất khả kháng thì thời gian có sự kiện bất khả kháng không được tính vào thời hạn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.

Căn cứ để hủy phán quyết trọng tài
Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP quy định về căn cứ hủy phán quyết trọng tài cụ thể như sau:

1. Phán quyết trọng tài quy định tại khoản 10 Điều 3 và Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010 bao gồm quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên của Hội đồng trọng tài quy định tại Điều 58 Luật Trọng tài thương mại 2010 và phán quyết trọng tài của Hội đồng trọng tài quy định tại Điều 61 Luật Trọng tài thương mại 2010.

2. Tòa án hủy phán quyết trọng tài quy định tại Điều 58 và Điều 61 Luật Trọng tài thương mại 2010 khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) “Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu” là thỏa thuận trọng tài thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 6 và Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010 và hướng dẫn tại các điều 2, 3 và 4 Nghị quyết này.

b) “Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái với các quy định Luật Trọng tài thương mại” là trường hợp các bên có thỏa thuận về thành phần Hội đồng trọng tài, quy tắc tố tụng trọng tài nhưng Hội đồng trọng tài thực hiện không đúng thỏa thuận của các bên hoặc Hội đồng trọng tài thực hiện không đúng quy định Luật Trọng tài thương mại về nội dung này mà Tòa án xét thấy đó là những vi phạm nghiêm trọng và cần phải hủy nếu Hội đồng trọng tài không thể khắc phục được hoặc không khắc phục theo yêu cầu của Tòa án quy định tại khoản 7 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại 2010.

Ví dụ 1: Trường hợp một bên không được thông báo về đơn khởi kiện quy định tại Điều 32 Luật Trọng tài thương mại 2010 kịp thời và hợp pháp theo quy tắc tố tụng trọng tài, Luật Trọng tài thương mại dẫn tới việc không đảm bảo được quyền được thành lập Hội đồng trọng tài là trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trọng tài quy định tại điểm b khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010.

Ví dụ 2: Các bên thỏa thuận tranh chấp được giải quyết bởi Hội đồng trọng tài gồm ba trọng tài viên và áp dụng luật nội dung của Việt Nam để giải quyết vụ tranh chấp nhưng thực tế việc giải quyết tranh chấp được tiến hành bởi Hội đồng Trọng tài gồm một Trọng tài viên duy nhất, pháp luật áp dụng là pháp luật nội dung của Singapore mặc dù một bên có phản đối nhưng không được Hội đồng trọng tài chấp nhận thì đây là trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trọng tài quy định tại điểm b khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010.

c) “Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài” là trường hợp Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010; hoặc Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp mà không được các bên thỏa thuận yêu cầu Trọng tài giải quyết hoặc giải quyết vượt quá phạm vi của thỏa thuận đưa ra Trọng tài giải quyết.

Về nguyên tắc, Tòa án chỉ hủy phần quyết định có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài mà không hủy phán quyết trọng tài. Trường hợp có thể tách được phần quyết định của Hội đồng trọng tài về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại Trọng tài, thì phần quyết định về vấn đề được yêu cầu giải quyết không bị huỷ.

Trường hợp không thể tách được phần quyết định của Hội đồng trọng tài về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại Trọng tài, thì Tòa án hủy phán quyết trọng tài đó.

d) “Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài”

Tòa án chỉ xem xét việc xác định chứng cứ giả mạo nếu có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu đó và chứng cứ đó phải có liên quan đến việc ra phán quyết, có ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết. Tòa án phải căn cứ vào quy định Luật Trọng tài thương mại, quy tắc tố tụng trọng tài, thỏa thuận của các bên và quy tắc xem xét, đánh giá chứng cứ mà Hội đồng trọng tài áp dụng khi giải quyết vụ việc để xác định chứng cứ giả mạo.

đ) “Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” là phán quyết vi phạm các nguyên tắc xử sự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam.

Khi xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Tòa án phải xác định được phán quyết trọng tài có vi phạm một hoặc nhiều nguyên tắc cơ bản của pháp luật và nguyên tắc đó có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp của Trọng tài.

Tòa án chỉ hủy phán quyết trọng tài sau khi đã chỉ ra được rằng phán quyết trọng tài có nội dung trái với một hoặc nhiều nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam mà Hội đồng trọng tài đã không thực hiện nguyên tắc này khi ban hành phán quyết trọng tài và phán quyết trọng tài xâm phạm nghiêm trọng lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của một hoặc các bên, người thứ ba.

Ví dụ 1: Các bên đã tự nguyện thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp và thỏa thuận này không trái pháp luật, đạo đức xã hội nhưng Hội đồng trọng tài không ghi nhận sự thỏa thuận đó của các bên trong phán quyết trọng tài. Trong trường hợp này phán quyết trọng tài đã vi phạm nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết trong lĩnh vực thương mại quy định tại Điều 11 Luật Thương mại và Điều 4 của Bộ luật dân sự... Tòa án xem xét, quyết định việc hủy phán quyết trọng tài này vì trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam đã được Luật Thương mại và Bộ luật dân sự… quy định.

Ví dụ 2: Một bên tranh chấp cung cấp chứng cứ chứng minh phán quyết trọng tài được lập có sự cưỡng ép, lừa dối, đe dọa hoặc hối lộ. Trong trường hợp này phán quyết trọng tài đã vi phạm nguyên tắc “trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư” quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Trọng tài thương mại.

Như vậy, trong trường hợp của bạn, nếu bạn không đồng ý với phán quyết trọng tài mà Hội đồng trọng tài đề ra, bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo đúng quy định của pháp luật. Trên đây là một số thông tin chúng tôi gửi tới bạn về căn cứ để hủy phán quyết trọng tài. Trân trọng!

ĐỌC THÊM

Vay tiền bằng hợp đồng mua chung cư được không?

Vay tiền bằng hợp đồng mua chung cư được không là câu hỏi được rất nhiều người quan tâm, đặc biệt là những người đã và đang có ý định mua căn hộ chung cư của chủ đầu tư dự án.

Một Số Quy Định Mới Về Sử Dụng Lao Động Nước Ngoài Theo Nghị Định 70/2023/NĐ-CP

Ngành giáo dục Việt Nam đã có nhiều thay đổi hơn so với trước đây. Với chính sách hội nhập và mở cửa quốc tế, chương trình giáo dục ở Việt Nam đã tích hợp cũng như liên kết giáo dục với nước ngoài phát...

Thiệt hại được bồi thường khi tính mạng bị xâm phạm trong pháp luật dân sự

Trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, vấn đề xác định thiệt hại được bồi thường, đặc biệt là khi tính mạng bị xâm phạm còn vướng mắc, bất cập liên quan đến: Giai đoạn trước khi người bị xâm phạm chết; chi phí...

Sử dụng hình ảnh cá nhân của người khác trái phép sẽ bị xử phạt như thế nào?

Cùng với sự phát triển của truyền thông, quyền hình ảnh của cá nhân ngày càng được đề cao và coi trọng. Vậy sử dụng hình ảnh cá nhân của người khác trái phép sẽ bị xử lý như thế nào?

Vấn đề bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra

Thực tiễn giải quyết vụ án liên quan đến vấn đề “bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra” theo điều 587 bộ luật dân sự năm 2015 đã phát sinh một số vướng mắc trong áp dụng pháp luật đối với một...

Người lao động cần làm gì khi công ty không đóng BHXH cho mình?

Nếu công ty không đóng BHXH cho người lao động làm việc tại doanh nghiệp thì phải giải quyết chế độ cho cho người lao động như thế nào?

Cơ quan báo chí ký hợp đồng quảng cáo sản phẩm cho doanh nghiệp. Khi người đứng đầu doanh nghiệp vi phạm pháp luật, phải chịu trách nhiệm hình sự thì hợp đồng quảng cáo sản phẩm còn hiệu lực không?

Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý. Là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng...

Cam kết không mang thai, sinh con trong vài năm đầu làm việc có đúng pháp luật không?

Tôi sắp ký hợp đồng với một công ty, trong hợp đồng có điều khoản người lao động không được mang thai trong 1 năm đầu làm việc. vậy xin hỏi điều này có trái với quy định của pháp luật không?

Về bảo lãnh trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Bảo lãnh là một trong 09 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích những bất cập về thời hạn, phạm vi, thời điểm…...

Hợp đồng uỷ quyền đất đai có bị mất hiệu lực khi chứng minh nhân dân hết hạn?

Hợp đồng uỷ quyền đất đai có bị mất hiệu lực khi chứng minh nhân dân hết hạn?

Thế nào là 'hòa giải thành' trong vụ việc dân sự, 'đối thoại thành' trong vụ án hành chính?

Theo hướng dẫn tại Công văn số 55/TANDTC-PC ngày 20/3/20218 của Tòa án nhân dân (TAND) Tối cao đưa ra tiêu chí để xác định hòa giải thành, đối thoại thành trong giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hà

Hành vi bán hàng lấn chiếm lòng đường bị xử phạt như thế nào?

Buôn bán trên vỉa hè, lòng đường luôn là vấn đề gây bức súc và ảnh hưởng đến giao thông, trật tự. Vậy hành vi đó bị xử phạt như thế nào?

Ai là người bị hại theo Điều 331 Bộ luật Hình sự?

Thời gian gần đây, xuất phát từ đơn tố giác của những người bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm thông qua các nền tảng mạng xã, cơ quan chức năng đã kiên quyết xử lý bằng việc tiến hành khởi tố vụ án, khởi...

Một số quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng gia công

Bên đặt gia công có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không? Bên nhận gia công có cần thiết phải giữ bí mật thông tin về quy trình gia công và sản phẩm tạo ra không?