1. Khái niệm lao động giúp việc gia đình
Giúp việc gia đình vốn là một công việc xuất hiện từ lâu và ngày càng phát triển khi cuộc sống dần trở nên hiện đại, bận rộn hơn trước. Bộ luật lao động 2019 đã ra đời, kế thừa quy định từ Bộ luật lao động 2012 và bổ sung, phát triển những quy định mới về lao động giúp việc gia đình. Theo khoản 1 điều 161 Bộ luật lao động 2019 thì: Lao động là người giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình. Công việc trong gia đình là chuỗi công việc nối tiếp, lặp lại, có thể kể đến như giặt giũ, dọn dẹp nhà cửa, nấu ăn, trông trẻ, chăm sóc người già yếu … hoặc các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại.
2. Quy định pháp luật về giao kết hợp đồng lao động
Thứ nhất là về chủ thể giao kết hợp đồng lao động giúp việc gia đình. Chủ thể của hợp đồng này bao gồm lao động giúp việc gia đình và người sử dụng lao động. lao động giúp việc gia đình có thể là người từ đủ 18 tuổi trở lên, hoặc người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi thì phải có văn bản đồng ý của người đại diện theo pháp luật. người sử dụng lao động bắt buộc phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có thể là chủ hộ hoặc người được chủ hộ ủy quyền.
Thứ hai là về hình thức của hợp đồng lao động giúp việc gia đình. Khoản 1 điều 162 Bộ luật lao động 2019 có quy định: người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với lao động là người giúp việc gia đình. Nếu hợp đồng giao kết bằng lời nói (do các bên được người quen giới thiệu, tin tưởng lẫn nhau hoặc thiếu hiểu biết pháp luật…) thì sẽ gây ra bất cập là không có căn cứ để giải quyết khi tranh chấp lao động xảy ra. Hợp đồng bằng văn bản chính là sợi dây ràng buộc các chủ thể về mặt pháp lý nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên một cách rõ ràng, minh bạch.
Thứ ba là về nội dung của hợp đồng lao động giúp việc gia đình. Nội dung của hợp đồng gồm các điều khoản chủ yếu và các nội dung khác theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Bộ luật lao động 2019. Ngoài ra, theo Mẫu số 01/PLV Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP, người sử dụng lao động và người lao động có trách nhiệm thỏa thuận cụ thể các quyền, nghĩa vụ và lợi ích của mỗi bên trong hợp đồng lao động để thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế.
Thứ tư là về thủ tục khi giao kết hợp đồng lao động giúp việc gia đình. Thủ tục này bao gồm: cung cấp thông tin theo Điều 16 Bộ luật lao động; thử việc; ký kết hợp đồng lao động; người sử dụng lao động phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã. Trong đó, người sử dụng lao động cần cung cấp các thông tin như công việc, nơi làm việc, thời gian làm việc và nghỉ ngơi, tiền lương; ngoài ra cần thông tin đặc điểm sinh hoạt của các thành viên trong gia đình để lao động giúp việc gia đình nắm bắt và thực hiện đúng yêu cầu. Người lao động cũng phải cung cấp thông tin của mình như tên tuổi, quê quán, hoàn cảnh gia đình hay các vấn đề khác theo yêu cầu của người sử dụng lao động. Một bên có thể bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu cung cấp thông tin không trung thực.