Trước khi tìm hiểu về 04 trường hợp Hợp đồng dân sự có thể bị tuyên vô, đầu tiên cần phải nhận biết hợp đồng vô hiệu là gì. Căn cứ theo Điều 112, Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định: "Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác." và Khoản 1 Điều 407 BLDS năm 2015 link với điều luật này như sau: "Quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu". Như vậy, hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không đáp ứng được các điều kiện có hiệu lực mà pháp luật về hợp đồng đã yêu cầu hoặc trong trường hợp pháp luật có quy định khác.
Vào phần chính, Bộ Luật Dân sự số 91/2015/QH13 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24/11/2015 quy định về 04 trường hợp Hợp đồng dân sự có thể bị tuyên vô hiệu như sau:
Thứ nhất, hợp đồng vô hiệu do không đủ các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
Hợp đồng có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu: Những hợp đồng có mục đích, nội dung phạm vào điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội là những hợp đồng xâm phạm đến lợi ích công. Vì vậy, để bảo vệ lợi của Nhà nước, lợi ích của xã hội, của các chủ thể khác ngoài hợp đồng, Tòa án có thể tuyên bố hợp đồng vô hiệu ngay cả khi không có ai yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu
Chủ thể bị lừa dối nên mới xác lập hợp đồng: Lừa dối trong hợp đồng là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của hợp đồng nên đã xác lập hợp đồng đó. Điều này vi phạm một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, cụ thể là "Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện"
Chủ thể bị đe dọa, cưỡng ép nên mới phải xác lập hợp đồng: Đe dọa, cưỡng ép trong hợp đồng là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện hợp đồng nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích. Hợp đồng xác lập do bị đe dọa, cưỡng ép là trường hợp chủ thể xác lập hợp đồng bị sự tác động của người khác (có thể là bên kia của hợp đồng hoặc người thứ ba) làm cho họ không còn khả năng lựa chọn mà buộc phải tham gia xác lập hợp đồng, việc tham gia hợp đồng của họ không còn mang tính tự nguyện.
- Hợp đồng được xác lập một cách giả tạo: Hợp đồng được xác lập hoàn toàn do ý chí chủ quan của các bên chủ thể. Các bên cùng thống nhất ý chí để tạo nên những hợp đồng chỉ là hình thức bề ngoài nhằm che dấu một hợp đồng có thật khác hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba. Về bản chất thì hợp đồng giả tạo là hợp đồng được xác lập mang tính ý chí tự nguyện của các bên nhưng không có sự thống nhất giữa ý chí đích thực/ý chí bên trong với sự thể hiện ý chí đó ra bên ngoài theo một hình thức nhất định. Các bên trong hợp đồng giả tạo không mong muốn và không nhằm làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ đối với nhau.
- Chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng là người chưa thành niên, người mất năng
lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự: Khi tham gia hợp đồng mà chủ thể là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ rơi vào trường hợp không đủ điều kiện để xác lập hợp đồng do họ không có được nhận thức cần thiết để làm chủ và điều khiển hành vi của mình.
- Chủ thể bị nhầm lẫn nên mới xác lập hợp đồng: Có thể do một hoặc cả hai bên nhầm lẫn nên mới xác lập hợp đồng nhưng lý do nhầm lẫn là do khách quan mang lại, hoàn toàn không phải là do ý chí chủ quan của chủ thể. Do đó, nếu vì nhầm lẫn mà dẫn đến bất lợi, không đạt được mục đích của việc xác lập hợp đồng thì người bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
- Hợp đồng không tuân thủ quy định về hình thức: Hình thức của hợp đồng là biểu hiện bên ngoài của nội dung đã được cam kết thỏa thuận giữa các bên chủ thể. Hợp đồng có thể giao kết theo hình thức lời nói, văn bản, hành vi cụ thể hoặc thậm chí thông qua các phương tiện điện tử. Trường hợp vi phạm điều kiện về hình thức hợp đồng có thể xảy ra trong trường hợp loại hình hợp đồng được pháp luật quy định phải sử dụng một hình thức thể hiện cụ thể. Chẳng hạn, theo quy
định tại Điều 121 và 122, Luật nhà ở 2014 thì hợp đồng mua bán nhà ở giữa các cá nhân với nhau phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực thì khi xác lập hợp đồng mua bán nhà ở, các bên phải lập thành văn bản và văn bản đó phải được công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc được chứng thực của UBND nơi có nhà ở được mua bán.
Thứ hai, hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được: Ngay cả khi đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì hợp đồng cũng có thể vô hiệu nếu như ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được.
Thứ ba, hợp đồng vô hiệu do hợp đồng chính vô hiệu: Trong mối liên quan giữa các hợp đồng thì mối liên quan về hiệu lực giữa một hợp đồng chính với một hợp đồng phụ xác định hiệu lực của hợp đồng phụ luôn phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng chính, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Thứ tư, hợp đồng vô hiệu do quy định riêng của pháp luật: Bên cạnh những trường hợp vô hiệu theo quy định chung của Bộ luật dân sự thì các luật chuyên ngành điều chỉnh hợp đồng đặc thù trong từng lĩnh vực còn có các quy định riêng về những trường hợp vô hiệu của hợp đồng. Hợp đồng rơi vào những trường hợp luật chuyên ngành nào quy định thì sẽ áp dụng luật đó để giải quyết việc tuyên hợp đồng vô hiệu và áp dụng hậu quả pháp lý do hợp đồng vô hiệu.