Tư vấn

Dân sự

Thiệt hại được bồi thường khi tính mạng bị xâm phạm trong pháp luật dân sự
Thiệt hại được bồi thường khi tính mạng bị xâm phạm trong pháp luật dân sự
Trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, vấn đề xác định thiệt hại được bồi thường, đặc biệt là khi tính mạng bị xâm phạm còn vướng mắc.

Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 có nhiều thay đổi so với các BLDS trước đây về thiệt hại được bồi thường khi tính mạng bị xâm phạm. Ngày 26/9/2022, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Nghị quyết số 02/2022). Vấn đề thiệt hại về tinh thần được bồi thường khi tính mạng bị xâm phạm đối với giai đoạn sau khi chết (phát sinh cho người thân) quy định tại khoản 2 Điều 591 BLDS năm 2015; thiệt hại về vật chất được bồi thường khi tính mạng bị xâm phạm được hướng dẫn tại Điều 8 Nghị quyết số 02/2022.

Trường hợp chết sau một thời gian bị xâm phạm: Khi tính mạng một cá nhân bị xâm phạm, có hai trường hợp phổ biến sau: Cá nhân chết tại thời điểm bị xâm phạm và cá nhân chết một thời gian sau khi bị xâm phạm.

Khi cá nhân chết tại thời điểm bị xâm phạm (như bị đâm và chết ngay, bị tai nạn và chết ngay), tính mạng không được bồi thường mà thiệt hại do cái chết này gây ra được bồi thường. Cụ thể, người bị xâm phạm về tính mạng (đã chết) không được bồi thường (không có quyền được bồi thường) trên cơ sở Điều 16 BLDS năm 2015, theo đó “năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự” (khoản 1) và “năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết” (khoản 2). Ở đây, cái chết gây ra thiệt hại cho người còn sống (đặc biệt là người thân của người có tính mạng bị xâm phạm) và người còn sống được bồi thường thiệt hại (thiệt hại của chính người thân do cái chết gây ra) như được bồi thường tiền cấp dưỡng, chi phí mai táng.

Khi cá nhân không chết tại thời điểm bị xâm phạm, họ có một giai đoạn còn sống và giai đoạn này ngắn hay dài tùy vào hoàn cảnh. Trường hợp rất phổ biến là cá nhân bị xâm phạm sống một vài ngày sau đó chết, nhưng cũng có trường hợp cá nhân bị xâm phạm sống nhiều tháng, thậm chí vài năm sau đó mới chết (cái chết vẫn bắt nguồn từ việc cá nhân bị xâm phạm). Đối với giai đoạn sau khi chết, thiệt hại được bồi thường là thiệt hại cho những người còn sống do chính họ bị thiệt hại do cái chết gây ra. Đối với giai đoạn trước khi chết, việc bồi thường được triển khai như thế nào? Cụ thể, được bồi thường thiệt hại gì? Nội dung dưới đây cho thấy người được bồi thường là người bị xâm phạm và thiệt hại được bồi thường gồm cả thiệt hại vật chất và tổn thất tinh thần.

Về thiệt hại vật chất được bồi thường: Thiệt hại vật chất được bồi thường cho người bị xâm phạm đối với giai đoạn trước khi chết, pháp luật đã có sự thay đổi.

Điểm a khoản 1 Điều 610 BLDS năm 2005 quy định: “Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết”. Như vậy, chỉ một phần thiệt hại đối với sức khỏe bị xâm phạm được bồi thường là chi phí nêu trên, các thiệt hại khác khi sức khỏe bị xâm phạm không được BLDS năm 2005 quy định cho bồi thường như thiệt hại của người chăm sóc, mất/giảm thu nhập của người có sức khỏe bị xâm phạm. Tuy nhiên, điểm a khoản 1 Điều 590 BLDS năm 2015 đã quy định: “Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm: Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này”. Theo đó, không phải một hay một số loại thiệt hại tại Điều 590 (về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm) được bồi thường mà toàn bộ thiệt hại nêu trong Điều 590 được bồi thường đối với giai đoạn trước khi cá nhân chết.

Đồng thời, khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 02/2022 quy định: “Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 591 của BLDS được xác định như sau: Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 BLDS, được hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết này, được tính từ thời điểm người bị thiệt hại bị xâm phạm sức khỏe cho đến thời điểm người đó chết”. Có thể thấy, đối với thiệt hại vật chất, hướng dẫn trên là phù hợp với BLDS năm 2015.

Đối với tổn thất về tinh thần (quyền được bồi thường thường): Khoản 2 Điều 590 BLDS năm 2015 quy định: “Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”. Tại Điều 7 Nghị quyết số 02/2022 không đề cập tới tổn thất về tinh thần, song không có nghĩa là tổn thất về tinh thần không được bồi thường ở giai đoạn sức khỏe bị xâm phạm bởi lẽ nội dung trên đã được BLDS năm 2015 ghi nhận tại khoản 2 Điều 590.

Đối với giai đoạn này, chính cá nhân người bị xâm phạm được bồi thường tổn thất về tinh thần vì các lý do sau: Thứ nhất, khi xây dựng quy định về giai đoạn trước khi chết trong điều luật về tính mạng bị xâm phạm (Điều 591), BLDS năm 2015 không liệt kê những loại thiệt hại được bồi thường (vì cách liệt kê như vậy sẽ dẫn đến cách hiểu là thiệt hại không được liệt kê sẽ không được bồi thường nên rất bất lợi cho người bị thiệt hại) mà viện dẫn tới toàn bộ Điều 590, trong khi đó, khoản 2 Điều 590 quy định về bồi thường tổn thất về tinh thần. Ở đây, không chỉ toàn bộ thiệt hại vật chất nêu tại Điều 590 mà cả tổn thất về tinh thần nêu tại Điều 590 được bồi thường; thứ hai, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân (tức khả năng có quyền, có nghĩa vụ) chỉ “chấm dứt khi người đó chết” như Điều 16 nêu trên quy định, nên đối với giai đoạn trước khi chết (cá nhân vẫn còn khả năng có quyền trong đó có quyền được bồi thường), cá nhân bị xâm phạm vẫn có quyền được bồi thường thiệt hại mà chính họ phải gánh chịu trong đó có quyền được bồi thường tổn thất về tinh thần. Bên cạnh đó, Điều 18 BLDS năm 2015 quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”, trong khi đó BLDS năm 2015 không có quy định loại trừ khả năng được bồi thường tổn thất về tinh thần đối với giai đoạn trước khi chết; luật khác nếu có quy định thì phạm vi áp dụng chỉ giới hạn trong phạm vi của luật đó, không ảnh hưởng tới trường hợp khác được BLDS điều chỉnh.

Về cách thức bồi thường tổn thất về tinh thần: Tùy vào giai đoạn trước khi chết ngắn hay dài mà người đứng ra yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần khác nhau. Nếu khoảng thời gian này dài, người có sức khỏe bị xâm phạm còn sống được thực hiện quyền yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần mà chính họ gánh chịu và nếu sức khỏe không cho phép thì người đại diện của họ sẽ yêu cầu thay. Khi người đại diện yêu cầu bồi thường, đây không là thiệt hại của người đại diện mà là thiệt hại của người được đại diện (người bị xâm phạm) nên người đại diện chỉ yêu cầu thay. Chẳng hạn, ông A bị xâm hại tới mức cần người giám hộ. Lúc này, vợ ông A yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần mà chính ông A gánh chịu; tiền bồi thường là tiền bồi thường cho chính ông A, không phải là tiền bồi thường cho vợ ông A.

Thực tế, khoảng thời gian trước khi chết thường ngắn nên người bị xâm phạm chưa kịp yêu cầu bồi thường mà đã chết. Ở đây, quyền được bồi thường trong đó có quyền được bồi thường tổn thất về tinh thần của người bị xâm phạm đã tồn tại (đã phát sinh ở giai đoạn còn sống) nhưng việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường chưa được triển khai ở giai đoạn người đó còn sống. Quyền được bồi thường này là quyền mang tính tài sản nên không chấm dứt khi cá nhân chết, do vậy, quyền này được chuyển cho những người thừa kế trên cơ sở Điều 614 BLDS năm 2015, theo đó: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”. Với quy định này, người thừa kế được pháp luật cho phép kế thừa quyền được bồi thường của người bị xâm phạm và được yêu cầu chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thực hiện trách nhiệm bồi thường. Ở đây, người thừa kế yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng đó không là thiệt hại mà người thừa kế phải gánh chịu, đó là thiệt hại mà người bị xâm phạm đã phải gánh chịu và quyền yêu cầu bồi thường của người bị xâm phạm được chuyển sang người thừa kế.

Theo khoản 2 Điều 591 BLDS năm 2015, “người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”. Có ý kiến cho rằng có quy định này rồi nên không cho bồi thường tổn thất về tinh thần đối với giai đoạn trước khi cá nhân bị xâm phạm chết; tuy nhiên, tác giả cho rằng, ý kiến trên không phù hợp, bởi các lý do sau: Thứ nhất, thiệt hại nêu tại khoản 2 Điều 591 là thiệt hại của người còn sống do cái chết gây ra (ở đây là “người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất” của người bị xâm phạm), không phải thiệt hại của người bị xâm phạm; thứ hai, khoản 2 Điều 591 tập trung vào thiệt hại của chính người còn sống (do chính họ phải gánh chịu), không đề cập và cũng không loại trừ thiệt hại của người bị xâm phạm trước khi chết. Nói cách khác, các thiệt hại này đều là thiệt hại về tinh thần được bồi thường nhưng bản chất khác nhau (thiệt hại phát sinh do sự đau đớn của người bị xâm phạm và thiệt hại phát sinh cho người thân của họ do cái chết gây ra) và chúng không loại trừ nhau (tức được kết hợp với nhau).

theo tap chi toa an nhan dan

ĐỌC THÊM

Website thương mại điện tử có phải là sàn giao dịch thương mại điện tử không? Những hoạt động kinh doanh nào bị cấm thực hiện trên sàn giao dịch thương mại điện tử?

Website thương mại điện tử có phải là sàn giao dịch thương mại điện tử không? Và những hoạt động kinh doanh nào bị cấm thực hiện trên sàn giao dịch thương mại điện tử?

Hợp đồng dân sự là gì? 06 loại hợp đồng dân sự chủ yếu

Xin hỏi là khi ký kết hợp đồng dân sự thì có các loại hợp đồng dân sự nào?

Rủi ro pháp lý khi chuyển nhượng bất động sản qua hình thức hợp đồng ủy quyền

Rủi ro pháp lý khi chuyển nhượng bất động sản qua hình thức hợp đồng ủy quyền

Di chúc viết tay sơ sài có hợp pháp không?

Bố tôi có để lại bản di chúc cho tôi một ngôi nhà và mảnh đất.Nhưng nội dung di chúc bố tối viết rất sơ sài.Vậy có được tính là di chúc trước tòa không ?

Khi công ty bố trí công việc không đúng như trong hợp đồng thì người lao động phải làm gì? Có được chấm dứt hợp đồng lao động không?

Những vấn đề khi công ty không bố trí công việc đúng như trong hợp đồng cho người lao động.

Xử phạt đối với người sử dụng lao động và người lao động không có giấy phép lao động làm việc tại Việt Nam như thế nào?

Bên công ty chị có sử dụng hai người lao động Trung Quốc. Họ chỉ có visa doanh nghiệp. Ngoài ra, không làm giấy phép lao động, không có tên trong giấy phép đầu tư nào khác... nếu bên an ninh kiểm tra, và cục...

Hỗ trợ khi thuê nhà ở xã hội, nhà ở cũ thuộc sở hữu nhà nước đối với người có công với cách mạng

Bài viết sau có nội dung về hỗ trợ khi thuê nhà ở xã hội, nhà ở cũ thuộc sở hữu nhà nước đối với người có công với cách mạng được quy định trong Nghị định 131/2021/NĐ-CP.

Cơ sở dữ liệu thương mại là gì? Cơ sở dữ liệu thương mại có được xem làm một trong những căn cứ ấn định thuế không?

Cơ sở dữ liệu thương mại có được xem làm một trong những căn cứ ấn định thuế không?

Bồi thường tổn thất tinh thần bao nhiêu tiền theo quy định?

Bồi thường tổn thất tinh thần là một trong những dạng bồi thường dân sự khi có thiệt hại xảy ra. Vậy, bồi thường tổn thất tinh thần cụ thể là gì? Bồi thường tổn thất bao nhiêu tiền theo quy định?

Cầm cố tài khoản định danh điện tử VNeID có thể bị phạt đến 06 triệu đồng

Bộ Công an đang dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 144/2021/NĐ-CP, trong đó có đề xuất bổ sung nhiều mức phạt liên quan đến tài khoản định danh điện tử.

Bố là chủ doanh nghiệp tặng doanh nghiệp tư nhân của mình cho con thì có chịu thuế thu nhập cá nhân hay không?

Tôi đang là chủ của một doanh nghiệp tư nhân để tặng doanh nghiệp lại cho con trai mình thì cần phải có những giấy tờ nào? Việc tặng cho giữa bố và con có phát sinh thuế thu nhập cá nhân hay không?

Lập di chúc như thế nào đối với đất cấp cho hộ gia đình?

Cho tôi hỏi, bố tôi có được viết di chúc đối với đất đã được cấp sổ hồng chung cho mọi người hay không? Cách viết phần tài sản định đoạt trong di chúc đối với trường hợp này như thế nào để hợp pháp...