Tư vấn

Dân sự

Bàn về Giấy tờ về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật đất đai năm 2013 sửa đổi
Bàn về Giấy tờ về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật đất đai năm 2013 sửa đổi
Luật đất đai từ khi ra đời đã tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế, xã hội của đất nước. Quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất được pháp luật ghi nhận và bảo hộ. Tuy nhiên, trên phương diện quản lý và sử dụng đều có những mặt tích cực và hạn chế cần phải sửa đổi, điều chỉnh nhất là trong nền kinh tế thị trường ngày càng chuyển biến mạnh mẽ.

Thực tế sử dụng đất hiện nay vẫn có nhiều vướng mắc liên quan đến đề nghị công nhận quyền và lợi ích hợp pháp cho người sử dụng đất. Đây là một nội dung không mới nhưng trong quá trình thực hiện đã không có sự thống nhất áp dụng của các địa phương trên cả nước đẫn đến tỷ lệ người sử dụng đất khiếu nại, khởi kiện về nội dung này rất lớn.

Cụ thể, tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 quy định về Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

Cụ thể hóa Điểm g Khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai, tại Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP đã quy định chi tiết các loại Giấy tờ khác về quyền sử dụng đất lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 có tên người sử dụng đất, bao gồm:

1. Sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18 tháng 12 năm 1980.

2. Một trong các giấy tờ được lập trong quá trình thực hiện đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị số 299-TTg ngày 10 tháng 11 năm 1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước do cơ quan nhà nước đang quản lý, bao gồm:

a) Biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã xác định người đang sử dụng đất là hợp pháp;

b) Bản tổng hợp các trường hợp sử dụng đất hợp pháp do Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã hoặc cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, cấp tỉnh lập;

c) Đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất đối với trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này.

3. Dự án hoặc danh sách hoặc văn bản về việc di dân đi xây dựng khu kinh tế mới, di dân tái định cư được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

4. Giấy tờ của nông trường, lâm trường quốc doanh về việc giao đất cho người lao động trong nông trường, lâm trường để làm nhà ở (nếu có).

5. Giấy tờ có nội dung về quyền sở hữu nhà ở, công trình; về việc xây dựng, sửa chữa nhà ở, công trình được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, xây dựng chứng nhận hoặc cho phép.

6. Giấy tờ tạm giao đất của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh; Đơn đề nghị được sử dụng đất được Ủy ban nhân dân cấp xã, hợp tác xã nông nghiệp phê duyệt, chấp thuận trước ngày 01 tháng 7 năm 1980 hoặc được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh phê duyệt, chấp thuận.

7. Giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc giao đất cho cơ quan, tổ chức để bố trí đất cho cán bộ, công nhân viên tự làm nhà ở hoặc xây dựng nhà ở để phân (cấp) cho cán bộ, công nhân viên bằng vốn không thuộc ngân sách nhà nước hoặc do cán bộ, công nhân viên tự đóng góp xây dựng. Trường hợp xây dựng nhà ở bằng vốn ngân sách nhà nước thì phải bàn giao quỹ nhà ở đó cho cơ quan quản lý nhà ở của địa phương để quản lý, kinh doanh theo quy định của pháp luật

8. Bản sao giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và các giấy tờ quy định tại các Khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành cấp huyện, cấp tỉnh đối với trường hợp bản gốc giấy tờ này đã bị thất lạc và cơ quan nhà nước không còn lưu giữ hồ sơ quản lý việc cấp loại giấy tờ đó.

Trong đó tại Điểm b Khoản 2 Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định “Bản tổng hợp các trường hợp sử dụng đất hợp pháp do Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã hoặc cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, cấp tỉnh lập”.

Tuy nhiên, tại Công văn số 1568/BTNMT–ĐKTKĐĐ của Bộ tài nguyên và môi trường ngày 25 tháng 4 năm 2007 về việc “ sử dụng sổ dã ngoại và sổ mục kê đất đai” thì “sổ đăng ký ruộng đất ( lập theo quy định tại quyết định số 56-ĐKTK) được coi là loại giấy tờ về quyền sử dụng đất vì các sổ này chỉ ghi đối với những người sử dụng đất đã kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và được hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã thẩm tra, xác nhận là sử dụng hợp pháp, đồng thời được ủy ban nhân dân cấp huyện xét duyệt công nhận ( theo quy định tại quyết định số 56-ĐKTK)”.

Như vậy, Nghi định 43/2014/NĐ-CP quy định chỉ cần “Bản tổng hợp các trường hợp sử dụng đất hợp pháp do Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã hoặc cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, cấp tỉnh lập”, còn tại Công văn  văn số 1568/BTNMT–ĐKTKĐĐ hướng dẫn chi tết lại yêu cầu danh sách này do “Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã thẩm tra, xác nhận là sử dụng hợp pháp, đồng thời được ủy ban nhân dân cấp huyện xét duyệt công nhận”.

 Vấn đề lập danh sách hộ sử dụng đất, vào sổ lưu trữ của chính quyền cấp xã hoặc cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, cấp tỉnh lập là điểu hiển nhiên đúng với chứng năng quản lý của mình. Người sử dụng đất thực hiện việc đăng ký, kê khai.

Thực tế, tại nhiều địa phương, hoạt động quản lý đất đai được thực hiện không thống nhất, không đầy đủ dẫn đến rất nhiều địa phương gặp trường hợp có Sổ Đăng ký ruộng đất (theo mẫu 5b) được lập khi thực hiện Chỉ thị 299/TTg chỉ có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã mà chưa được Ủy ban nhân dân cấp huyện xác nhận. Như vậy, theo quy định về giấy tờ quyền sử dụng đất nếu rơi vào trường hợp có giấy tờ về quyền sử dụng đất, có diện tích cụ thể, và diện tích đó lớn hơn 05 (năm) lần hạn mức đất ở ( đối với đất có nguồn gốc trướng ngày 18/12/1980) nhưng vẫn không được công nhận toàn bộ là diện tích đất ở theo giấy tờ do không đủ điều kiện là Sổ đăng ký ruộng đất phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp huyện xác nhận.

Xuất phát từ thực tiễn quản lý đất đai trước đây lỏng lẻo, không chặt chẽ, đây là do lỗi của chính quyền địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục đăng ký thống kê ruộng đất tại thời điểm đó mà không phải do lỗi của người sử dụng đất. Quan điểm để đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất đã chấp hành đúng pháp luật đất đai, bảo đảm sự công bằng trong cấp Giấy chứng nhận giữa người đã có tên trong sổ đăng ký ruộng đất đã được xác nhận đầy đủ và có tên trong sổ đăng ký ruộng đất thì cần công nhận quyền lợi tương đương nhau.

Bởi vậy, trong một nội dung pháp luật điều chỉnh, cần có quy định đồng nhất, giải thích triệt để, tránh việc lúng túng trong áp dụng pháp luật cũng như bảo hộ tối đa các quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng đất

Ths – Luật sư Trần Thị Khánh Hương

 

ĐỌC THÊM

Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vướng mắc về Hành chính

Ngày 24/4/2023, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức Hội nghị trực tuyến giải đáp một số vướng mắc trong công tác xét xử của các Tòa án. Trên cơ sở các vướng mắc và giải đáp của Hội...

Mức phạt lỗi sử dụng điện thoại khi lái xe năm 2023

Tình trạng người điều khiển xe sử dụng điện thoại để nghe gọi, nhắn tin trên đường đang diễn ra nhiều và tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tai nạn. Vậy hành vi sử dụng điện thoại khi lái xe bị phạt như thế nào.

Rủi ro pháp lý khi chuyển nhượng bất động sản qua hình thức hợp đồng ủy quyền

Rủi ro pháp lý khi chuyển nhượng bất động sản qua hình thức hợp đồng ủy quyền

Bao nhiêu án lệ được áp dụng trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tặng cho đất đai?

Xin hỏi, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành bao nhiêu án lệ có liên quan đến việc áp dụng trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tặng cho đất đai? - Câu hỏi của bạn Hồng Ánh (Bình...

Con dâu được hưởng di sản thừa kế từ bố mẹ chồng?

Trong gia đình nhiều khi con dâu là người gần gũi với cha mẹ chồng hơn cả con đẻ. Khi cha mẹ qua đời, con dâu có được hưởng thừa kế từ cha mẹ chồng không?

Chế tài đối với trọng tài viên tiến hành giải quyết tranh chấp khi có căn cứ rõ ràng cho thấy

Chế tài đối với trọng tài viên tiến hành giải quyết tranh chấp khi có căn cứ rõ ràng cho thấy trọng tài viên không vô tư, khách quan là gì?

Di chúc miệng khi nào thì có hiệu lực?

Thông thường di chúc sẽ được lập thành văn bản, tuy nhiên, luật vẫn cho phép di chúc miệng trong một số trường hợp. Vậy khi nào di chúc miệng có hiệu lực?

Nhận tiền chuyển khoản nhầm mà không trả lại, giữ để sử dụng thì có vi phạm pháp luật không? Bị xử lý như thế nào?

Hiện nay có rất nhiều thủ đoạn lừa đảo, giả chuyển khoản tiền nhầm là một trong số đó. Vậy quy định pháp luật về vấn đề này như thế nào? Sử dụng số tiền đó được không?

Có thể tự biên dịch giấy tờ để yêu cầu chứng thực chữ ký không?

Xin hỏi, đối với giấy tờ tự dịch từ Tiếng Việt sang Tiếng Anh, tôi có thể yêu cầu Phòng Tư pháp chứng thực chữ ký của mình trên bản dịch đó không? (Câu hỏi của bạn Thân Đức Huy - Bình Dương)

Vi phạm bản quyền trên Internet sẽ bị xử phạt như thế nào?

Hành vi nào được xem là hành vi vi phạm bản quyền trên Internet? Hành vi vi phạm bản quyền trên Internet sẽ bị xử phạt như thế nào?

​Những điểm lưu ý về chủ thể chịu rủi ro đối với tài sản theo quy định

Những điểm lưu ý về chủ thể chịu rủi ro đối với tài sản theo quy định.

Có phải trả thêm tiền bảo hiểm vào lương thử việc?

Công ty của bà Nguyễn Thị Tú Q (Hà Nội) ký hợp đồng thử việc với người lao động theo Khoản 1 Điều 24 Bộ luật Lao động năm 2019. Nội dung chủ yếu của hợp đồng thử việc không bao gồm các mục về...

Một số vấn đề pháp lý về thực hiện thay nghĩa vụ cho người khác

Trong thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự hiện nay phát sinh nhiều trường hợp một bên thực hiện thay nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ, tuy nhiên về quan điểm giải quyết còn có một số vấn đề về nhận thức

Hồ sơ bổ sung tài sản trên đất vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Khi bạn muốn bổ sung tài sản trên đất vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cần thực hiện những thủ tục nào và nộp hồ sơ đăng ký bổ sung tại cơ quan nào và thời hạn giải quyết là bao lâu...