Bộ luật Dân sự 2015 đã xác định chủ thể có trách nhiệm BTTH là tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, còn chủ thể được BTTH là NTD. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ được quy định cụ thể trong 2 văn bản pháp luật có liên quan trong lĩnh vực này: Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Luật BVQLNTD) năm 2010 và Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007.
Khoản 2 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD) năm 2010 quy định: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm thương nhân theo quy định của Luật Thương mại, cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh”. Về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường theo luật này, bao gồm tất cả tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm.
Khoản 6 Điều 3 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 quy định: “Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh là tổ chức, cá nhân tổ chức và thực hiện việc sản xuất (người sản xuất), nhập khẩu (người nhập khẩu), xuất khẩu (người xuất khẩu), bán hàng, cung cấp dịch vụ (người bán hàng).
Về chủ thể chịu trách nhiệm BTTH được Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa quy định tại khoản 10 Điều 10, khoản 13 Điều 12, khoản 12 Điều 16 và Điều 61, Điều 62. Theo đó, người sản xuất, nhập khẩu phải BTTH cho NTD trong trường hợp hàng hóa gây thiệt hại do lỗi của nhà sản xuất, nhập khẩu không bảo đảm chất lượng hàng hóa trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 62.
Người bán hàng phải chịu trách nhiệm bồi thường cho NTD trong trường hợp thiệt hại phát sinh do lỗi của người bán hàng không bảo đảm chất lượng sản phẩm, hàng hóa, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 62. Theo như quy định của Luật này thì chưa đề cập đến trường hợp cả người sản xuất, người nhập khẩu và người bán hàng đều có lỗi trong việc không bảo đảm chất lượng sản phẩm, hàng hóa, gây thiệt hại cho NTD.
NTD là đối tượng được bảo vệ theo Luật BVQLNTD và đồng thời đây cũng là đối tượng được BTTH nếu phát sinh trách nhiệm bồi thường. Chính bởi sự ưu tiên này, nhằm bảo đảm hiệu quả trong việc điều chỉnh và tính công bằng trong áp dụng các ưu đãi, pháp luật không thể sử dụng nguyên vẹn khái niệm NTD trong kinh tế học hoặc với tính cách là người mua hàng hóa, dịch vụ trong Bộ luật Dân sự mà cần phải được phân biệt.
Trong Luật BVQLNTD năm 2010 thì có định nghĩa về NTD là các cá nhân mua hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích hoạt động kinh doanh, thương mại hoặc hoạt động nghề nghiệp chuyên nghiệp. Để xác định một chủ thể có phải là NTD được BTTH khi bị xâm phạm quyền lợi chính đáng hay không thì pháp luật thường dựa vào các điều kiện sau:
Thứ nhất, đối tượng của giao dịch phải là những hàng hóa, dịch vụ được phép lưu thông và đáp ứng được các nhu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần của cá nhân con người. Đây là một điều kiện, thật ra rất khó xác định bởi nhu cầu sinh hoạt của con người trong điều kiện hiện nay rất đa dạng.
Những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu hằng ngày của con người như đồ ăn, đồ uống, thuốc chữa bệnh… được coi là đối tượng đương nhiên của NTD. Khi đó, các quy định của pháp luật BVQLNTD liên quan đến vệ sinh, an toàn đối với sức khỏe con người được áp dụng, kể cả đối với trường hợp hàng hóa chưa được bán cho NTD. Trong những trường hợp khác, cần phải kết hợp với mục đích của việc mua hàng hóa, dịch vụ đó dùng vào việc gì.
Thứ hai, NTD phải là cá nhân. Việc quy định này đã giúp những NTD yếu thế trong quan hệ với nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Nhìn chung, nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ có hiểu biết tốt hơn về hàng hóa, dịch vụ của mình so với NTD.
Khi tìm hiểu về sản phẩm, khả năng tiếp cận và tiếp nhận thông tin tham vấn của cá nhân đơn lẻ là hạn chế hơn nhiều đối với một tổ chức. Nói cách khác, trong việc tự bảo vệ quyền của mình, năng lực của một tổ chức thường tốt hơn các cá nhân rất nhiều.
Tuy nhiên, việc “tiêu dùng” hay “sinh hoạt” của một tổ chức cũng là một điều rất khó xác định; đồng thời khó có thể coi việc “tiêu dùng” hay “sinh hoạt” của tổ chức là không vì hoạt động chức năng hoặc nghề nghiệp của tổ chức đó. Ví dụ: một công ty mua nước uống không phải để “cơ quan uống” mà là để những con người cụ thể trong công ty uống.
Vì vậy, tổ chức không thể được xem là NTD. Giao dịch phát sinh sẽ được các văn bản pháp luật liên quan đến hợp đồng bảo vệ, mặc dù đối tượng giao dịch là hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng.
Trong ví dụ nêu trên, nếu nhân viên uống nước bị thiệt hại thì có thể kiện nhà cung cấp nước với tư cách là NTD; còn cơ quan, tổ chức đã mua thì chỉ được kiện nhà cung cấp với tư cách là người mua hàng trong quan hệ hợp đồng thông thường và có thể trở thành đại diện của người tiêu dùng.
Do vậy, chủ thể của quan hệ pháp luật về trách nhiệm BTTH do vi phạm quyền lợi NTD bao gồm chủ thể chịu trách nhiệm BTTH (cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa dịch vụ) trong việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hoặc không cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết về việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó cho NTD, dẫn đến thiệt hại cho NTD và chủ thể được BTTH.
Khách thể của quan hệ pháp luật về BTTH do vi phạm quyền lợi của NTD
Khách thể của quan hệ pháp luật về trách nhiệm BTTH do vi phạm quyền lợi NTD là các khoản BTTH bao gồm vật chất và tinh thần mà NTD được hưởng khi bị cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa dịch vụ xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi nói về việc bồi thường cho NTD thì cần phải xác định được thiệt hại nào mà các cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa dịch vụ gây ra cho NTD và mức thiệt hại đó là bao nhiêu.
Tính mạng, sức khỏe của con người là là vô cùng quý giá và không thể xác định được giá trị đã bị thiệt hại nên không thể đổi thành vật chất dưới bất kỳ hình thức nào. Khi tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ mà bán hàng hóa dịch vụ không bảo đảm chất lượng cho NTD, có thể sẽ gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của NTD.
Vì vậy, bản chất của BTTH này là tạo điều kiện cho người bị thiệt hại và gia đình họ khắc phục kịp thời những khó khăn do thiệt hại đó gây ra và trong một số trường hợp, nó chỉ có ý nghĩa như là sự trợ cấp cho người bị thiệt hại và gia đình của họ.
theo tap chi luat su viet nam