Tư vấn

Dân sự

Rủi ro pháp lý khi chuyển nhượng bất động sản qua hình thức hợp đồng ủy quyền
Rủi ro pháp lý khi chuyển nhượng bất động sản qua hình thức hợp đồng ủy quyền
Rủi ro pháp lý khi chuyển nhượng bất động sản qua hình thức hợp đồng ủy quyền

 Theo Điều 562 Bộ luật Dân sự 2015: “Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

  Như vậy, bản chất của hợp đồng uỷ quyền là sự tự nguyện thoả thuận giữa bên uỷ quyền và bên được uỷ quyền, theo đó bên được uỷ quyền thay mặt, nhân danh bên uỷ quyền để thực hiện công việc do 2 bên thoả thuận mà sự thoả thuận đó không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định của pháp luật. Đồng thời, công việc được uỷ quyền phải là những công việc diễn ra thực tế trong đời sống xã hội mà bên uỷ quyền có quyền hoặc nghĩa vụ thực hiện và bên được uỷ quyền có thể thực hiện. Bên uỷ quyền chỉ phải trà thù lao nếu 2 bên có thoả thuận.

      Thực tiễn cho thấy một số trường hợp khi thực hiện chuyển nhượng bất động sản thay vì tiến hành giao kết bằng văn bản hợp đồng chuyển nhượng có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền thì giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng lại đồng thời thực hiện 2 hợp đồng song song gồm: hợp đồng uỷ quyền có công chứng, chứng thực (nhằm che dấu việc mua bán thật bên trong) và hợp đồng chuyển nhượng (mua bán) chỉ hai bên ký kết mà không có công chứng, chứng thực.

       * Cụ thể:

      Theo quy định của pháp luật, việc thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản là đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân (quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật thuế TNCN trừ một số trường hợp được miễn thuế quy định tại điều 4 luật này) với mức thuế suất là 2% tính theo giá trị do các bên thoả thuận trong hợp đồng chuyển nhượng hoặc tính theo giá do cơ quan nhà nước quy định (khi giá trị trong hợp đồng nhỏ hơn giá nhà nước).

       Giá trị bất động sản là rất lớn so với những tài sản khác cho nên mức thuế phải nộp khi chuyển nhượng là không hề nhỏ. Vì vậy để trốn tránh nghĩa vụ thuế đối với nhà nước thì giữa bênchuyển nhượng và bênnhận chuyển nhượng đã thực hiện đồng thời 2 hợp đồng như đã nói ở trên. Một là hợp đồng uỷ quyền với nội dụng uỷ quyền được xem như chuyển toàn bộ quyền sở hữu của bên uỷ quyền (bên chuyển nhượng) sang bên được uỷ quyền (bên nhận chuyển nhượng) bao gồm như chiếm hữu, sử dụng, quản lý, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp vay vốn... và có công chứng chứng thực. Hai là hợp đồng chuyển nhượng do các bên ký nhưng lại không công chứng chứng thực (mang tính tạo sự an tâm cho các bên nhưng tính pháp lý của nó dường như rất ít vì  bản chất của hợp đồng chuyển nhượng ngoài phải tuân thủ hình thức bằng văn bản thì cần có công chứng chứng thực của cơ quan có thẩm quyền vì đó là cơ sở để tiến hành thủ tục sang tên cho bên mua tại văn phòng đăng ký đất đai theo đúng quy định và như vậy mục đích chuyển nhượng mới đạt được).

       Mặc dù, thấy được sự bất cập trên và đã có ý kiến của cấp trên cụ thể là như việc: Tổng cục thuế có công văn số 1133 ngày 05/04/2011 trả lời Cục thuế TP Hà Nội về vướng mắc khi tiến hành thu thuế đối với uỷ quyền chuyển nhượng bất động sản. Theo công văn 1133 thì cơ sở tính thuế thu nhập cá nhân đối với uỷ quyền chuyển nhượng BĐS khi hợp đồng đó phải thoả mãn đủ cả 2 điều kiện. Điều kiện thứ nhất là: “việc cá nhân có đầy đủ năng lực dân sự mà ủy quyền cho cá nhân khác không thuộc đối tượng được miễn thuế theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 4 Luật thuế TNCN, được toàn quyền thực hiện việc chiếm hữu, quản lý, sử dụng và định đoạt bất động sản của mình bao gồm cả việc cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng, đổi, cho tặng, thế chấp và không phải hoàn trả lại bất động sản cho Bên ủy quyền và các lợi ích có được từ hoạt động ủy quyền”. Điều kiện thứ 2 là “Bên được ủy quyền không nhận thù lao”. Thực tế dù công văn này được ban hành có phần nào hạn chế được việc uỷ quyền để định đoạt BĐS nhằm che dấu việc mua bán bên trong nhưng vẫn còn những vướng mắc để áp dụng đó là: chỉ trả lời đối với Cục thuế Hà nội mà không có văn bản hướng dẫn cụ thể tới từng địa phương do đó vẫn xuất hiện mỗi nơi 1 kiểu: thu hay không? thu như thế nào? Ngoài ra, quy định điều kiện bên được uỷ quyền không nhận thù lao, như thế chỉ cần trong hợp đồng uỷ quyền có thoả thuận là có thù lao với một giá trị bất kỳ (không quan trọng là bao nhiêu vì công văn này không đề cập) thì Hợp đồng uỷ quyền đó vẫn năm ngoài phạm vi mà công văn 1133 nói tới.

       Hiện nay, pháp luật không cấm việc uỷ quyền để giao dịch bất động sản nên các tổ chức hành nghề công chứng vẫn phải công chứng hợp đồng uỷ quyền đó dù biết một số trường hợp bản chất thật bên trong là việc mua bán chuyển nhượng và nó ảnh hưởng tới nhà nước, thất thu tiền thuế của nhà nước.

       Tuy nhiên, dù được công chứng hay chứng thực đối với những trường hợp lách luật kiểu này thì các bên vẫn phải chịu những rủi ro pháp lý rất lớn đặc biệt là bên được uỷ quyền (bên mua) có thể kể đến:

       * Thứ 1: Dù chuyển toàn bộ quyền sở hữu của bên bán sang bên mua thông qua hợp đồng uỷ quyền này, tuy nhiên trên thực tế tài sản vẫn thuộc sở hữu của bên Bán (do chưa sang tên bằng hợp đồng uỷ quyền được) do đó trên giá trị pháp lý bên uỷ quyền( bên bán) vẫn là chủ sở hữu tài sản và có mọi quyền đối với tài sản theo quy định pháp luật.

       * Thứ 2: Hợp đồng ủy quyền để chiếm hữu, sử dụng và định đoạt bất động sảncó thể bị chấm dứt theo quy định của pháp luật và khi chấm dứt thì bên được uỷ quyền không được thực hiện những không việc uỷ quyền nữa, được nhận thù lao nếu có thoả thuận, giao lại tài sản đã nhận và những lợi ích thu được trong khi thực hiện việc ủy quyền theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, tài sản trở về chủ sở hữu. Cụ thể theo quy định tại khoản 3 Điều 140 BLDS 2015 thì:

       - Hợp đồng ủy quyền sẽ đương nhiên bị chấm dứt (dù các bên có thỏa thuận khác);

       Hợp đồng ủy quyền sẽ đương nhiên bị chấm trong trường hợp “bên ủy quyền hoặc bên được ủy quyền chết, bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết, người đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại”. Cụ thể là nếu một bên, hoặc là bên ủy quyền hoặc bên được ủy quyền (bên bán và mua theo thỏa thuận mua bán) chết thì hợp đồng ủy quyền sẽ đương nhiên chấm dứt. hậu quả xảy ra là bất động sản sẽ trở lại thuộc quyền sở hữu của bên ủy quyền hoặc được để thừa kế cho người thừa kế của bên ủy quyền (trong trường hợp bên ủy quyền chết) còn người thừa kế của bên được uỷ quyền sẽ không được chia thừa kế đối với BĐS này (nếu bên được uỷ quyền chết).

       - Người được đại diện hoặc người đại diện đơn phương chấm dứt thực hiện việc ủy quyền;

       Quy định tại Điều 569 BLDS 2015 thì theo đó dù có thoả thuận thù lao hay không thì các bên trong hợp đồng uỷ quyền vẫn có quyền tự mình đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng uỷ quyền chỉ cần báo trước cho bên kia một khoảng thời gian hợp lý (nếu hợp đồng không có thù lao) và có thêm bồi thường nếu có thiệt hại (nếu hợp đồng có thù lao). Mặc dù “thời gian hợp lý” là như thế nào và xác định ra sao trên thực tế vẫn còn không thống nhất.

       - Thời hạn ủy quyền đã hết;

       Thời hạn ủy quyền là do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng ủy quyền có hiệu lực 01 năm, kể từ ngày xác lập việc ủy quyền.

       Như vậy, hợp đồng uỷ quyền là hợp đồng có thời hạn, việc sử dụng hợp đồng uỷ quyền để thay thế hợp đồng chuyển nhượng nên hết thời hạn thì công việc uỷ quyền chấp dứt, BĐS chuyển nhượng lại trở về người uỷ quyền (bên bán), thì các bên sẽ lại phải ký lại hợp đồng uỷ quyền từ đầu.

       * Thứ 3: Trong trường hợp lúc chuyển nhượng dưới hình thức hợp đồng uỷ quyền. Sau một thời gian, giá bất động sản biến động mạnh, nếu bên chuyển nhượng (bên uỷ quyền) lật lọng, đơn phương chấm dứt uỷ quyền hoặc không uỷ quyền nữa khi hết thời hạn thì bên mua (bên nhận uỷ quyền) sẽ bị ảnh hưởng lớn tới quyền và lợi ích của mình và sẽ xảy ra tranh chấp.

       * Thứ 4: Thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ với bên thứ ba (cơ quan thuế, ngân hàng, thi hành án…), theo quy định của pháp luật, các chủ nợ này có quyền yêu cầu phong tỏa, kê biên...các tài sản của người ủy quyền, bao gồm các bất động sản đã chuyển nhượng theo hợp đồng ủy quyền. Về mặt pháp lý, dù đã hoàn tất thủ tục của hợp đồng ủy quyền nhưng trên thực tế, bất động sản vẫn thuộc quyền sở hữu của người ủy quyền, người được ủy quyền chỉ là đại diện cho chủ sở hữu nên khi đến hạn thanh toán, các chủ nợ vẫn có quyền yêu cầu kê biên hoặc phát mãi bất động sản để thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ.....

       Trên đây là một số rủi ro cơ bản của các bên khi chuyển nhượng BĐS dưới hình thức hợp đồng uỷ quyền. Khi tiếp nhận hồ sơ cần phải giải thích rõ về quyền, nghĩa vụ và hậu quả pháp lý để các bên giao kết hiểu rõ bản chất nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro, tranh chấp về sau cho người dân.

theo so tu phap

ĐỌC THÊM

Tài sản đang thế chấp có được bán hay không?

Tài sản đang thế chấp có được bán không? Quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong thế chấp tài sản được quy định như thế nào?

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng gửi giữ tài sản

Trong hợp đồng gửi giữ tài sản có hai chủ thể đó là bên gửi giữ tài sản và bên nhận giữ. Vậy hai chủ thể này có quyền và nghĩa vụ gì?

Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vướng mắc về Hành chính

Ngày 24/4/2023, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức Hội nghị trực tuyến giải đáp một số vướng mắc trong công tác xét xử của các Tòa án. Trên cơ sở các vướng mắc và giải đáp của Hội...

Ai là người bị hại theo Điều 331 Bộ luật Hình sự?

Thời gian gần đây, xuất phát từ đơn tố giác của những người bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm thông qua các nền tảng mạng xã, cơ quan chức năng đã kiên quyết xử lý bằng việc tiến hành khởi tố vụ án, khởi...

Trường hợp bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi?

Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng

Hướng dẫn thủ tục cải chính giấy khai sinh

Khi thực hiện thủ tục cải chính Giấy khai sinh cần những giấy tờ nào ?

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng - Thực trạng và giải pháp

Trong phạm vi bài viết, nhóm tác giả phân tích thực trạng của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng, nêu ra các hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành và đề ra các giải pháp hoàn thiện.

Chưa đủ 18 tuổi có được nhận di sản thừa kế?

Theo Bộ luật Dân sự 2015, việc người chưa đủ 18 tuổi có được nhận thừa kế hay không còn phụ thuộc vào người đã mất “có” hay “không” để lại di chúc. Hãy cùng Luật Việt Nam tìm hiểu ngay chi tiết trong

Mẹ chưa 18 tuổi có được làm khai sinh cho con? Người bố có vướng lao lý?

Con gái tôi chưa đủ 18 tuổi nhưng đã lỡ dại và chuẩn bị sinh con. Vậy cháu có đủ điều kiện làm giấy khai sinh cho con không? Và bạn trai cháu liệu có bị phạt vì quan hệ với người dưới 18 tuổi...

Ý nghĩa 02 ký tự đầu tiên trên mã sổ đỏ, sổ hồng mới nhất

Sau đây là hướng dẫn về ý nghĩa 02 ký tự đầu tiên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (hay thường được gọi là sổ đỏ hoặc sổ hồng).

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

Trong những năm qua, pháp luật về ngân hàng nói chung và pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng nói riêng đã được Nhà nước ta quan tâm và không ngừng hoàn thiện. Hệ thống văn bản pháp luật về hợp đồng trong...

Các ví dụ vi phạm dân sự? Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự được quy định như thế nào?

Các ví dụ vi phạm dân sự? Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự được quy định như thế nào?

Phòng thủ dân sự là gì? Nhiệm vụ phòng thủ dân sự ?

Phòng thủ dân sự là gì? Và nhiệm vụ phòng thủ dân sự hiện nay được quy định thế nào?

Luật gia đòi thân chủ hơn 100 tỉ đồng tiền hứa thưởng: Có phù hợp với quy định của pháp luật?

Khi giải quyết các tranh chấp có liên quan đến việc hứa thưởng, cần xem xét thỏa thuận hứa thưởng của các bên để xác định các quy phạm pháp luật điều chỉnh.