Tư vấn

Dân sự

Giao dịch dân sự vô hiệu khi nào?
Giao dịch dân sự vô hiệu khi nào?
Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Vậy, giao dịch dân sự vô hiệu khi nào?

Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu là gì?
Căn cứ Điều 122 Bộ luật Dân sự hiện hành, nếu không có một trong các điều kiện nêu tại Điều 117 Bộ luật Dân sự thì giao dịch dân sự đó sẽ vô hiệu. Cụ thể như sau:

Thứ nhất: Do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội. Trong đó:

- Do vi phạm điều cấm của luật là những quy định mà luật không cho phép được làm. Trong đó, điều cấm của luật là những quy định mà luật quy định cá nhân, tổ chức không được phép thực hiện.

Ví dụ: Pháp luật cấm mua bán trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Do đó, nếu các bên thỏa thuận và có giao dịch mua bán vũ khí quân dụng thì thuộc trường hợp vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật.

- Do trái đạo đức xã hội nêu tại Điều 123 Bộ luật Dân sự. Cụ thể Điều này quy định, đạo đức xã hội được định nghĩa là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, đã được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Ví dụ: Do ghen tuông nên anh A đã thuê anh B và đồng bọn đến đấm anh C - người bị anh A nghi ngờ là có quan hệ ngoại tình với vợ mình. Giao dịch thuê của anh A và anh B vừa vi phạm pháp luật vừa vi phạm đạo đức và sẽ bị tuyên vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, vi phạm đạo đức xã hội.

Thứ hai: Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo. Nội dung này được nêu tại Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Theo đó, nếu các bên xác lập một giao dịch A để che giấu cho giao dịch B thì giao dịch dân sự giả tạo (giao dịch A) sẽ bị vô hiệu còn giao dịch dân sự B vẫn có hiệu lực trừ trường hợp giao dịch B thuộc một trong các trường hợp vô hiệu khác.

Ví dụ: Anh A có vay 100 triệu đồng của chị B. Tuy nhiên, hai anh chị không lập hợp đồng vay tiền mà chị B thỏa thuận với anh A lập hợp đồng mua bán nhà, đất. Trong hợp đồng mua bán này, chị B yêu cầu ghi giá chuyển nhượng là 100 triệu đồng. Nếu đến thời hạn mà anh A không trả đủ 100 triệu đồng cho chị B thì chị B sẽ sử dụng hợp đồng đó để sang tên quyền sử dụng nhà, đất của anh A.

Như vậy, hợp đồng mua bán nhà, đất là hợp đồng giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tiền. Do đó, hợp đồng mua bán nhà, đất sẽ vô hiệu; hợp đồng vay tiền vẫn còn hiệu lực.

Ngoài ra, nếu giao dịch dân sự đó được thực hiện để trốn tránh nghĩa vụ dân sự với người thứ ba thì giao dịch đó cũng sẽ vô hiệu.

Ví dụ: Anh A vay ngân hàng 200 triệu đồng và đã thế chấp xe ô tô. Tuy nhiên, đến hạn trả gốc thì anh A không có đủ tiền để trả và ngân hàng đã gửi giấy báo sẽ kê biên, bán đấu giá chiếc xe ô tô cho anh B. Để trốn tránh việc phải bán đấu giá chiếc xe ô tô, anh A đã lập hợp đồng mua bán xe ô tô với anh C nhưng không thực hiện việc giao tiền, giao xe. Do đó, hợp đồng mua bán xe ô tô trong trường hợp này sẽ bị tuyên vô hiệu do giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ với ngân hàng.

Thứ ba: Giao dịch dân sự vô hiệu do chủ thể thực hiện giao dịch là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện.

Trong các trường hợp này, giao dịch sẽ bị tuyên vô hiệu bởi khi chủ thể là các đối tượng trên, giao dịch phải do người đại diện của họ thực hiện trừ trường hợp:

- Giao dịch cho người chưa đủ 06 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự thực hiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của họ.

- Giao dịch chỉ phát sinh quyền hoặc miễn trừ nghĩa vụ của các đối tượng này.

- Sau khi chủ thể giao dịch đã thành niên hoặc khôi phục năng lực hành vi dân sự thừa nhận.

Thứ tư: Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.

Ví dụ khi người đó lâm vào tình trạng say rượu và đúng thời điểm đó thì thực hiện giao dịch dân sự. Tuy nhiên, người này phải chứng minh được trạng thái khi thực hiện giao dịch của mình và yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch mình đã thực hiện là vô hiệu.

Thứ năm: Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn. Theo Điều 126 Bộ luật Dân sự, một hoặc các bên vì nhầm lần khi giao kết giao dịch dân sự khiến mục đích của việc xác lập giao dịch không thực hiện được.

Trong trường hợp đó, người có mục đích giao dịch không đạt có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu trừ trường hợp mục đích thực hiện giao dịch đã đạt được hoặc bên kia đã khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm mục đích giao dịch vẫn đạt được.

Thứ sáu: Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép. Trong đó:

- Lừa dối là hành vi cố ý nhằm làm cho người thực hiện giao dịch hiểu sai về tính chất, chủ thể của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch. Do đó, vì hiểu sai nên người này mới xác lập giao dịch đó.

Ví dụ: Anh A ký hợp đồng mua bán chung cư nhà ở xã hội với anh B nhưng chưa đáp ứng đủ điều kiện về thời gian (sau 05 năm mới được mua bán, chuyển nhượng). Tuy nhiên, anh B lại khẳng định, căn chung cư đã có Sổ đỏ, đã được mua bán. Khi hai bên ký hợp đồng mua bán thì anh A có thể yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng này vô hiệu vì đã vi phạm điều cấm của luật (cấm mua bán nhà ở xã hội trong thời hạn 05 năm) vừa bị lừa dối để ký hợp đồng mua bán.

Đe dọa, cưỡng ép là hành vi cố ý buộc bên kia phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, uy tín, danh dự, tài sản, nhân phẩm của mình hoặc người thân của mình.

Thứ bảy: Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức. Nếu quy định của pháp luật yêu cầu hình thức là một trong những điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực thì phải thực hiện theo quy định đó.

Ví dụ: Khi ký hợp đồng mua bán nhà, đất, các bên phải lập hợp đồng bằng văn bản, có công chứng, chứng thực thì bắt buộc phải thực hiện yêu cầu về hình thức này để giao dịch không bị tuyên vô hiệu.

Ngoài ra, giao dịch dân sự có thể bị vô hiệu từng phần. Khi đó, một phần của giao dịch dân sự bị vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của những nội dung khác trong giao dịch dân sự.

Điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực
Theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, một giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực nếu đảm bảo các yêu cầu sau đây:

- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

- Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

- Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội

- Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể

Ngoài ra, nếu các trường hợp giao dịch dân sự luật quy định bắt buộc phải có công chứng, chứng thực thì phải lập thành văn bản và có công chứng, chứng thực.

theo luat viet nam

ĐỌC THÊM

Người dân có quyền tự yêu cầu giám định tuổi của cây trồng không?

Xin hỏi, hiện nay pháp luật có những quy định nào trong việc xác định tuổi của cây trồng? Người dân có quyền yêu cầu giám định hay không? - Câu hỏi của bạn Thu Hường (Hải Dương).

Thông tư 24/2023/TT-BCA: Lệ phí cấp mới biển số xe định danh từ ngày 15/8/2023 là bao nhiêu?

Đăng ký xe từ ngày 15/8/2023 sẽ áp dụng biển số xe định danh. Theo đó, lệ phí khi đăng ký biển số xe định danh là bao nhiêu? Bài viết sẽ cung cấp một số thông tin liên quan đến vấn đề này. Theo...

Về bảo lãnh trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Bảo lãnh là một trong 09 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích những bất cập về thời hạn, phạm vi, thời điểm…...

Bàn về Giấy tờ về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật đất đai năm 2013 sửa đổi

Luật đất đai từ khi ra đời đã tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế, xã hội của đất nước. Quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất được pháp luật ghi nhận và bảo hộ. Tuy nhiên, trên phương...

Rủi ro pháp lý khi chuyển nhượng bất động sản qua hình thức hợp đồng ủy quyền

Rủi ro pháp lý khi chuyển nhượng bất động sản qua hình thức hợp đồng ủy quyền

Quả rụng vỡ kính ô tô, người trồng cây phải đền?

Thời gian gần đây xảy ra rất nhiều vụ việc người đi ô tô đậu xe ở ven đường nhưng bị cây nhà dân rụng làm vỡ kính ô tô. Vậy trong trường hợp này, ai sẽ là người phải đền bù?

Những phán quyết trọng tài thương mại nào được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam?

Những phán quyết nào của trọng tài thương mại được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam? Ai có quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài thương mại?

Giải quyết tranh chấp về phân chia di sản thừa kế

Tranh chấp về thừa kế là nội dung tranh chấp tương đối phổ biến trong tranh chấp dân sự, đặc biệt là các tranh chấp liên quan đến việc phân chia di sản thừa kế

4 lưu ý khi giao kết hợp đồng thuê nhà kinh doanh 2024

Hợp đồng thuê nhà kinh doanh là văn bản pháp lý ghi nhận giao dịch giữa bên cho thuê và bên thuê. Đây cũng là cơ sở để giải quyết tranh chấp hợp đồng khi các bên có mâu thuẫn. Vậy cần lưu ý những...

Quyền về cấp, thoát nước đối với bất động sản liền kề

Trong số các quyền đối với tài sản, Bộ luật Dân sự 2015 có quy định chi tiết về quyền trong việc cấp, thoát nước đối với bất động sản liền kề.

Nhà đầu tư nước ngoài là gì? Nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư vào Việt Nam thông qua những hình thức đầu tư nào?

Nhà đầu tư nước ngoài, muốn đầu tư vào Việt Nam thì có thể đầu tư bằng các hình thức nào? Bạn tôi có được gọi là nhà đầu tư nước ngoài không?

Có thể sử dụng VNeID để thực hiện các giao dịch tại ngân hàng không?

(LSVN) - VNeID là ứng dụng xây dựng trên nền tảng cơ sở dữ liệu về định danh, dân cư và xác thực điện tử, cung cấp các tiện ích phát triển công dân số, chính phủ số, xã hội số. Vậy, ứng dụng VNeID...

Nhóm đối tượng nào phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp?

Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là một loại hình bảo hiểm bắt buộc với một số đối tượng. Tôi xin hỏi, những đối tượng nào phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp? - (Trịnh Thị Thu Hà - Bình Dương).

Một Số Quy Định Mới Về Sử Dụng Lao Động Nước Ngoài Theo Nghị Định 70/2023/NĐ-CP

Ngành giáo dục Việt Nam đã có nhiều thay đổi hơn so với trước đây. Với chính sách hội nhập và mở cửa quốc tế, chương trình giáo dục ở Việt Nam đã tích hợp cũng như liên kết giáo dục với nước ngoài phát...

Tính chất đền bù của hợp đồng Dân sự theo quy định của pháp luật

Tính chất đền bù lợi ích được coi là một trong những đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật Dân sự. Tính chất đền bù đó được thể hiện một cách rõ nét nhất trong chế định hợp đồng Dân sự.