Hướng dẫn giảm nhẹ hình phạt theo tỷ lệ khắc phục thiệt hại
Theo quy định tại khoản 5 Điều 5 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP, khi xét xử các vi phạm pháp luật về đất đai mà bị cáo hoặc các tổ chức, cá nhân liên quan không thể khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại, Tòa án sẽ xem xét giảm mức hình phạt dựa trên 04 khoảng tỷ lệ khắc phục cụ thể. Việc giảm án này không được áp dụng tự động mà Tòa án phải đánh giá tổng thể dựa trên hiệu quả kinh tế - xã hội đóng góp cho địa phương, đất nước cũng như mức độ khắc phục thực tế tại thời điểm xét xử.
Về các mức giảm cụ thể, nếu người vi phạm đã khắc phục đến 1/4 hậu quả thiệt hại thì có thể được xem xét giảm tối đa đến 1/4 mức hình phạt. Trường hợp khắc phục được từ trên 1/4 đến 1/2 thiệt hại, mức giảm tối đa có thể lên tới một phần hai hình phạt. Khi mức khắc phục đạt từ trên 1/2 đến 3/4 hậu quả, Tòa án có thể giảm tối đa đến 2/3 mức hình phạt. Đặc biệt, nếu đã khắc phục được từ trên 3/4 đến dưới toàn bộ thiệt hại, mức giảm tối đa được áp dụng có thể lên đến 4/5 hình phạt. Cần lưu ý rằng đây đều là các mức giảm tối đa mang tính định hướng, Tòa án sẽ quyết định mức giảm cụ thể dựa trên việc xem xét toàn diện các căn cứ pháp lý và thực tiễn chứ không chỉ phụ thuộc đơn thuần vào tỷ lệ tài sản được khắc phục.
Phạm vi và nguyên tắc áp dụng cơ chế đặc thù
Theo Điều 1 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP, phạm vi hướng dẫn của văn bản này tập trung vào các cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết, xét xử các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai theo Nghị quyết 29/2026/QH16 của Quốc hội. Đây là Nghị quyết được ban hành nhằm xử lý các vi phạm đất đai của tổ chức, cá nhân phát sinh trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực, đồng thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài. Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2026.
Về nguyên tắc áp dụng, đối với vụ việc đã được áp dụng cơ chế đặc thù theo Nghị quyết 29/2026/QH16 nhưng người vi phạm vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự, Tòa án sẽ xem xét áp dụng cả hai Nghị quyết này để xét xử nếu có đủ căn cứ. Trong trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm và bị xét xử trong cùng một vụ án, cơ chế đặc thù chỉ được áp dụng riêng đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai, còn các hành vi vi phạm khác vẫn xử lý theo quy định chung. Tương tự, với vụ án có nhiều bị can, bị cáo, chính sách này chỉ áp dụng cho những người có hành vi vi phạm đất đai có đủ căn cứ, không áp dụng cho các đồng phạm hoặc đối tượng khác.
Đặc biệt, quy định cũng nêu rõ ngoại lệ đối với các trường hợp công trình, dự án đã hoàn thành nhưng chưa khắc phục hậu quả thiệt hại. Lúc này, Tòa án sẽ không áp dụng các biện pháp tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa hay hoãn/tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù theo Nghị quyết 29/2026/QH16. Mọi quá trình giải quyết, xét xử và thi hành án đối với các vụ việc này vẫn được tiếp tục tiến hành bình thường theo đúng quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án.
Quy trình xử lý của Tòa án trong thời gian chờ khắc phục thiệt hại
Nhằm tạo điều kiện cho việc khắc phục hậu quả, Điều 5 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn chi tiết việc tạm đình chỉ hoặc hoãn phiên tòa. Ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can nếu có đủ căn cứ. Còn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào khả năng khắc phục thực tế và đề nghị của bị cáo để xem xét hoãn phiên tòa hoặc tạm đình chỉ vụ án. Việc hoãn phiên tòa được giới hạn thời gian không quá 30 ngày kể từ ngày ra quyết định và chỉ áp dụng khi có căn cứ xác định các bên sẽ khắc phục được thiệt hại trong thời hạn này. Nếu xét thấy không có khả năng khắc phục trong 30 ngày, Hội đồng xét xử sẽ chuyển sang xem xét tạm đình chỉ vụ án đối với bị cáo.
Kết quả xử lý sau đó sẽ phụ thuộc vào tiến độ khắc phục hậu quả của các bên liên quan. Trong thời gian tạm đình chỉ, nếu tài sản bị thất thoát, thiệt hại được khắc phục toàn bộ, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo. Ngược lại, nếu hết thời hạn tạm đình chỉ mà vẫn chưa khắc phục xong toàn bộ, Tòa án sẽ ra quyết định phục hồi vụ án để tiếp tục xét xử theo Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với trường hợp hoãn phiên tòa, nếu các bên khắc phục xong toàn bộ hậu quả trong thời hạn hoãn thì Tòa án cũng sẽ ra quyết định đình chỉ vụ án. Nếu hết thời hạn hoãn mà hậu quả chưa được khắc phục hoàn toàn, Tòa án có thể ra quyết định tạm đình chỉ vụ án nếu có căn cứ cho thấy họ vẫn có khả năng tiếp tục khắc phục. Cuối cùng, khi vụ án được đưa ra xét xử mà hậu quả thiệt hại vẫn chưa được khắc phục trọn vẹn, Tòa án sẽ áp dụng quy định giảm nhẹ hình phạt theo các khoảng tỷ lệ khắc phục như đã nêu ở trên.
Căn cứ tài liệu xem xét việc tạm đình chỉ hoặc hoãn phiên tòa
Để Tòa án có cơ sở quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc hoãn phiên tòa nhằm chờ khắc phục thiệt hại, các bên liên quan phải cung cấp đầy đủ các nhóm tài liệu theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP. Trước hết là nhóm tài liệu xác định vụ việc, thiệt hại và tính hiệu quả của dự án. Nhóm này bao gồm văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định vi phạm về đất đai xảy ra trước ngày 01/8/2024 và không có yếu tố tham nhũng; văn bản xác định cụ thể mức độ thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước (nếu có mâu thuẫn giữa các cơ quan, Tòa án sẽ căn cứ vào kết luận của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc yêu cầu định giá tài sản); cùng văn bản của lãnh đạo Chính phủ, Bộ, ngành hoặc chính quyền cấp tỉnh xác định mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội của dự án.
Nhóm căn cứ thứ hai là văn bản, tài liệu của đại diện Chính phủ, các Bộ, ngành hoặc địa phương xác định dự án, công trình đó vẫn còn khả năng, phương án và điều kiện thực tế để tiến hành khắc phục.
Nhóm thứ ba là bản giải trình của bị can, bị cáo hoặc tổ chức, cá nhân liên quan. Bản giải trình này phải nêu rõ nguyên nhân khách quan dẫn đến việc chưa khắc phục xong hậu quả, đồng thời khẳng định phương án khắc phục khả thi và phải gửi kèm các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho nguyên nhân khách quan đó.
Cuối cùng, hồ sơ bắt buộc phải có bản cam kết của người vi phạm hoặc cá nhân, tổ chức liên quan về việc sẽ thực hiện các biện pháp khắc phục thiệt hại. Bản cam kết này phải đi kèm với các tài liệu, chứng cứ chứng minh rõ ràng về năng lực tài chính, phương án, lộ trình thực hiện, các biện pháp cụ thể cũng như thời hạn hoàn thành việc khắc phục hậu quả.