Theo khoản 1 Điều 43 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP, chủ quản nền tảng thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán có trách nhiệm khấu trừ, khai thay và nộp thay số thuế đã khấu trừ đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Cụ thể, chủ quản nền tảng phải khấu trừ và nộp thay số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo quy định của pháp luật thuế giá trị gia tăng đối với mỗi giao dịch cung cấp hàng hóa, dịch vụ phát sinh doanh thu ở trong nước của hộ kinh doanh, cá nhân có hoạt động kinh doanh trên nền tảng. Đồng thời, chủ quản nền tảng phải khấu trừ và nộp thay số thuế thu nhập cá nhân phải nộp theo quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với mỗi giao dịch cung cấp hàng hóa, dịch vụ phát sinh doanh thu trong và ngoài nước của cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng, cũng như đối với mỗi giao dịch cung cấp hàng hóa, dịch vụ phát sinh doanh thu trong nước của cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng.
Đối với nhà cung cấp nước ngoài có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, khoản 2 Điều 43 Nghị định quy định chủ quản nền tảng có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán thực hiện khấu trừ, nộp thay số thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quy định của pháp luật thuế giá trị gia tăng, pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp đối với từng giao dịch cung cấp hàng hóa, dịch vụ phát sinh doanh thu tại Việt Nam.
Như vậy, đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, sàn thương mại điện tử phải khấu trừ, nộp thay thuế giá trị gia tăng đối với giao dịch phát sinh doanh thu trong nước; thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân cư trú trên giao dịch phát sinh doanh thu trong và ngoài nước; thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú trên giao dịch phát sinh doanh thu trong nước.
Thời điểm thực hiện khấu trừ được quy định tại khoản 1 Điều 44 Nghị định 252/2026/NĐ-CP. Đối với chủ quản nền tảng thương mại điện tử, thời điểm khấu trừ là thời điểm xác nhận giao dịch thành công và chấp nhận thanh toán theo quy định của nền tảng. Đối với tổ chức kinh doanh tại Việt Nam quy định tại khoản 3 Điều 43, thời điểm khấu trừ là thời điểm thanh toán cho nhà cung cấp nước ngoài, cá nhân không cư trú.
Căn cứ xác định số thuế phải khấu trừ theo khoản 2 Điều 44 Nghị định là số thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân được xác định theo tỷ lệ phần trăm thuế suất trên doanh thu phát sinh tại Việt Nam. Tỷ lệ thuế suất thực hiện theo quy định của pháp luật thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân đối với mỗi giao dịch bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ. Doanh thu phát sinh tại Việt Nam là số tiền bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ mà tổ chức nước ngoài, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được hưởng do tổ chức kinh doanh tại Việt Nam chi trả hoặc chủ quản nền tảng thu hộ. Trường hợp tổ chức kinh doanh tại Việt Nam hoặc chủ quản nền tảng thuộc đối tượng khấu trừ, nộp thay không xác định được giao dịch phát sinh doanh thu từ nền tảng là hàng hóa hay dịch vụ hoặc loại dịch vụ trên cơ sở dữ liệu và thông tin sẵn có thì xác định số thuế phải khấu trừ theo mức tỷ lệ thuế suất cao nhất theo quy định của pháp luật thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.
Theo khoản 1 Điều 46 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, chủ quản nền tảng thương mại điện tử thuộc đối tượng khấu trừ, nộp thay số thuế đã khấu trừ có trách nhiệm thực hiện quản lý tên và mật khẩu của các tài khoản đã được cơ quan thuế cấp; lưu giữ dữ liệu giao dịch kinh doanh, thông tin và tài liệu liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp, số thuế đã khấu trừ của nhà cung cấp nước ngoài, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh theo quy định pháp luật về quản lý thuế. Chủ quản nền tảng phải thực hiện khấu trừ thuế, kê khai số thuế đã khấu trừ, nộp thay số thuế đã khấu trừ chính xác, đầy đủ theo thông tin cung cấp của nhà cung cấp nước ngoài, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và theo quy định tại Nghị định này; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế. Ngoài ra, chủ quản nền tảng phải cung cấp thông tin khác về hoạt động kinh doanh trên nền tảng theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế; thực hiện trả đầy đủ, kịp thời số tiền thuế đã khấu trừ, nộp thay của nhà cung cấp nước ngoài, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đối với các giao dịch bị hủy hoặc trả lại hàng; thực hiện trách nhiệm theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.
Các quy định trên nhằm bảo đảm việc khấu trừ, nộp thay thuế được thực hiện đúng, đầy đủ và minh bạch đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử.
Nguồn: https://luatvietnam.vn/thue/san-thuong-mai-dien-tu-phai-khau-tru-nop-thay-nhung-loai-thue-nao-cho-ho-ca-nhan-kinh-doanh-652-114480-article.html