(ẢNH MINH HỌA AI)
Việc triển khai Chuẩn mực quốc tế về kế toán (IFRS) tại Việt Nam đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc đồng bộ hóa hệ thống quản trị tài chính doanh nghiệp với các thông lệ toàn cầu. Căn cứ theo quy định tại Điều 1, Điều 2 và Điều 3 thuộc Thông tư 118/2026/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành, cơ chế áp dụng chuẩn mực này được thiết kế theo hướng tự nguyện có điều kiện. Đối tượng thuộc diện xem xét điều chỉnh bao gồm các doanh nghiệp cùng tổ chức kinh tế là thành viên Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, với yêu cầu phải đáp ứng đầy đủ nguyện vọng, năng lực chuyên môn và nguồn lực vận hành thực tế khi lập, trình bày báo cáo tài chính riêng lẻ cũng như báo cáo tài chính hợp nhất.
Về mặt nguyên tắc quản lý, Điều 3 của văn bản nêu rõ tính toàn vẹn và nguyên mẫu của hệ thống chuẩn mực quốc tế. Doanh nghiệp khi đăng ký chuyển đổi không được phép tùy chỉnh, loại bỏ hay sửa đổi bất kỳ nội dung nào thuộc các chuẩn mực hiện hành. Bên cạnh đó, tính nhất quán quản trị yêu cầu phương pháp kế toán này phải giữ nguyên hiệu lực trọn vẹn trong suốt kỳ kế toán năm; mọi hành vi khởi đầu hoặc chấm dứt áp dụng chỉ được công nhận hợp lệ nếu thời điểm hiệu lực trùng với ngày đầu tiên của năm tài chính tiếp theo. Báo cáo tài chính hình thành từ quy trình này đòi hỏi bảo đảm cao nhất về độ trung thực, tính minh bạch, tính kịp thời và khả năng tự kiểm tra, truy xuất của cơ quan chức năng. Như vậy, phạm vi điều chỉnh của Thông tư không mang tính bắt buộc đại trà mà phụ thuộc hoàn toàn vào định hướng chiến lược và quy mô thực tế của từng đơn vị.
Sự chuyển đổi chế độ kế toán cũng đặt ra những nghĩa vụ thủ tục nghiêm ngặt đối với thời điểm thay đổi và quy trình báo cáo. Khoản 2 Điều 3 kết hợp cùng khoản 4 Điều 5 quy định doanh nghiệp bị cấm thay đổi phương pháp giữa chừng trong năm tài chính. Khi phát sinh nhu cầu bắt đầu hoặc dừng vận hành theo chuẩn mực quốc tế, tổ chức phải hoàn thành nghĩa vụ gửi thông báo bằng văn bản đến Bộ Tài chính tối thiểu 30 ngày trước thời điểm dự kiến thực hiện.
Mối liên hệ giữa báo cáo tài chính quốc tế và nghĩa vụ với cơ quan quản lý nhà nước được xác định rõ tại Điều 4. Văn bản kế toán sau khi hoàn hoàn chỉnh phải được chuyển nộp tới cơ quan điều hành, cơ quan giám sát và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Việt Nam. Dù nội dung báo cáo tuân thủ nguyên tắc quốc tế, các thông số về kỳ báo cáo, hạn chót nộp báo cáo cũng như quy trình công khai thông tin vẫn phải tuân thủ triệt để khung pháp lý về kế toán hiện hành của Việt Nam. Điều này đảm bảo tính pháp lý thống nhất của dữ liệu tài chính trong hệ thống quản lý nhà nước.
Nghĩa vụ pháp lý chi tiết của tổ chức áp dụng được quy định cụ thể tại Điều 5. Đơn vị phải chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật về tính chính xác của tài liệu; chủ động giải trình, cung cấp thông tin minh bạch cho cơ quan thuế cùng các đơn vị kiểm tra, giám sát. Đặc biệt, Bản Thuyết minh báo cáo tài chính (cả riêng lẻ và hợp nhất) bắt buộc phải bao gồm lời tuyên bố chính thức về mức độ tuân thủ Chuẩn mực quốc tế về kế toán. Đây được xem là căn cứ pháp lý quan trọng xác nhận trách nhiệm của ban lãnh đạo doanh nghiệp.
Đối với trường hợp chuyển đổi chế độ kế toán lần đầu, khoản 1 Điều 6 dẫn chiếu trực tiếp đến các yêu cầu chuyên môn của Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế số 1 (IFRS 1). Kế toán viên có nghĩa vụ trình bày thông tin so sánh tương ứng và thực hiện thuyết minh chuyên sâu theo đúng chỉ dẫn của chuẩn mực này nhằm đảm bảo tính liên tục của dữ liệu qua các thời kỳ.
Về hiệu lực thi hành, khoản 1 Điều 7 xác định Thông tư 118/2026/TT-BTC bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2027, áp dụng trực tiếp cho các năm tài chính khởi đầu từ hoặc sau thời điểm này. Nhằm tăng cường công tác công khai và quản lý, Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán thuộc Bộ Tài chính sẽ niêm yết công khai danh sách các đơn vị đăng ký áp dụng trên Cổng thông tin điện tử của Bộ. Việc cập nhật danh sách này sẽ được hoàn tất trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày cơ quan quản lý nhận được văn bản thông báo chính thức từ phía doanh nghiệp.
Nguồn: https://luatvietnam.vn/thue-phi-le-phi/thong-tu-118-2026-tt-btc-quy-dinh-ve-ap-dung-chuan-muc-quoc-te-ve-ke-toan-tai-viet-nam-nhu-the-nao-565-113352-article.html