Tư vấn

Hôn nhân - Gia đình

Xác định quan hệ hôn nhân hợp pháp trong trường hợp có 2 vợ?
Xác định quan hệ hôn nhân hợp pháp trong trường hợp có 2 vợ?

Tình huống: Bố mẹ tôi sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987, không đăng ký kết hôn, có tổ chức lễ cưới và có thời gian chung sống tại Việt Nam. Sau đó, hai bên ra nước ngoài sinh sống và phát sinh mâu thuẫn. Đến năm 2007 khi chưa giải quyết ly hôn thì bố tôi đăng ký kết hôn với người khác tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam. Trường hợp này, Tòa án phải xác định quan hệ hôn nhân nào hợp pháp? Hậu quả pháp lý nếu hôn nhân của mẹ cả hợp pháp là gì?  Căn cứ pháp lý?

Trả lời:

I. Căn cứ pháp lý

- Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP.

- Luật Hôn nhân và Gia đình 2000. 

- Bộ Luật Hình sự 1999.

- Nghị định 110/2013/NĐ-CP. 

II. Nam nữ sống chung như vợ chồng trước ngày 03/01/1987

Căn cứ điểm d mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001, nam nữ được coi là sống chung với nhau như vợ chồng khi đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và thuộc một trong các trường hợp sau:

- Có tổ chức lễ cưới;

- Được gia đình chấp thuận;

- Việc chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;

- Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình

Theo đó, thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

Vào 03/01/1987 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) là thời điểm không bắt buộc mà chỉ khuyến khích đăng ký kết hôn. Như vậy, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 dù có đăng ký kết hôn hay không có đăng ký kết hôn thì vẫn được công nhận là vợ chồng.

Kể cả khi sau này mới thực hiện việc đăng ký kết hôn, thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận kể từ ngày xác lập (ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng), chứ không phải là chỉ được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Do vậy, trong trường hợp này, quan hệ vợ chồng khi hai người chung sống với nhau từ trước 03/01/1987 được xem là hợp pháp.

III. Hậu quả pháp lý của việc đăng ký kết hôn khi chưa ly hôn

Vì thời điểm thực hiện đăng ký kết hôn là năm 2007, do đó Luật áp dụng để giải quyết trong trường hợp này là Luật HNGĐ năm 2000 và các văn bản hướng dẫn vào thời điểm này.

Theo đó, tại Điều 4 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định về các hành vi bị cấm kết hôn, gồm: “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác”

Do đó khi đang trong mối quan hệ vợ chồng thì không thể đăng ký kết hôn với người khác. Để có thể kết hôn tiếp thì cần thực hiện các thủ tục ly hôn, sau đó đăng ký kết hôn nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện kết hôn. Vì vậy trong trường hợp này là vi phạm điều cấm của Luật Hôn nhân và gia đình.

*Kết hôn khi chưa ly hôn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính

Tại điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã quy định về các hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, vi phạm quy định về ly hôn như sau:

“Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

…”

* Kết hôn khi chưa ly hôn có thể bị xử lý hình sự

Việc kết hôn khi chưa ly hôn là vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng. Pháp luật hình sự đã có biện pháp xử lý trường hợp này quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Hình sự 2015. Quy định cụ thể như sau:

“1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác …, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.”

 Nguồn tham khảo: http://luatvietnam.vn

 

ĐỌC THÊM

Các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng

Xin hỏi theo quy định pháp luật về hôn nhân dân đình thì có mấy trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định ra sao

Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng theo Bộ luật Hình sự

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ tôi có quan hệ bất chính với người đàn ông khác thì có bị xem là vi phạm chế độ một vợ một chồng không?

Quy định về những hành vi vi phạm chế độ hôn nhân và gia đình

Những hành vi vi phạm chế độ hôn nhân gia đình: kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn,

Tổng hợp các câu hỏi tình huống về Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022

Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 gồm 6 chương, 56 điều. Luật này quy định về phòng ngừa, ngăn chặn, bảo vệ, hỗ trợ, xử lý vi phạm trong phòng, chống bạo lực gia đình; điều kiện bảo đảm phòng, chống bạo...

Có được chấm dứt thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng?

Vợ chồng tôi đã thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Xin hỏi, chúng tôi có được chấm dứt thỏa thuận này không?

Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng được quy định như thế nào? Có thể thoả thuận về vấn đề này không và trường hợp nào thì thoả thuận bị vô hiệu?

Vợ tự bán tài sản chung có hợp pháp không?

Giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng...

Quy định về tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014

Tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014 được quy định như thế nào?

Nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng là một nội dung quan trọng trong chế độ tài sản của vợ, chồng.

Quyền lưu cư của vợ hoặc chồng sau khi ly hôn

Sau khi ly hôn, vợ hoặc chồng có khó khăn trong việc tìm kiếm chỗ ở mới thì có thể lưu cư theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Cô ruột có được nhận cháu làm con nuôi không?

Mẹ của bé là chị dâu tôi, đã bỏ đi nhiều năm và mất liên lạc, để lại con cho vợ chồng tôi chăm sóc. Tôi muốn nhận cháu làm con nuôi thì phải làm sao?