Tại Điều 10 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP đã được sửa đổi theo khoản 3, Điều 1 Nghị định số 06/2012/NĐ-CP quy định về ủy quyền đăng ký hộ tịch như sau: Người có yêu cầu đăng ký hộ tịch (trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký giám hộ, đăng ký việc nhận cha, mẹ, con) hoặc yêu cầu cấp các giấy tờ về hộ tịch mà không có điều kiện trực tiếp đến cơ quan đăng ký hộ tịch, thì có thể ủy quyền cho người khác làm thay. Việc ủy quyền phải bằng văn bản và phải được công chứng hoặc chứng thực hợp lệ.
Nếu người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền, thì không cần phải có văn bản ủy quyền, nhưng phải có giấy tờ chứng minh về mối quan hệ nêu trên.
Trường hợp bà Trịnh Thị Thủy đã tổ chức đám cưới nhưng chưa thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn có thẩm quyền, như vậy cho đến thời điểm này, ông bà chưa được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Thứ nhất, việc đăng ký kết hôn là quan hệ nhân thân làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý mà chỉ có các chủ thể trong quan hệ đó mới được quyền quyết định có xác lập quan hệ đó hay không, do đó không thể uỷ quyền cho người khác quyết định thay mình. Khi xác lập quan hệ hôn nhân, hai bên nam, nữ phải trực tiếp có mặt tại cơ quan đăng ký kết hôn để bày tỏ ý muốn tự nguyện kết hôn của mình, chứ không thể uỷ quyền cho người khác nhân danh mình làm thay.
Căn cứ khoản 3, Điều 1 Nghị định số 06/2012/NĐ-CP, thì 4 trường hợp không được phép thực hiện uỷ quyền khi đăng ký hộ tịch là: đăng ký kết hôn, đăng ký giám hộ, đăng ký việc nhận cha, mẹ, con. Theo đó, ông bà không thể thực hiện việc ủy quyền cho cha mẹ hai bên nhân danh ông, bà để đăng ký kết hôn.
Nếu ông, bà đang cùng chung sống tại nơi đăng ký tạm trú, mà thực sự không thể bố trí được thời gian về nơi đăng ký thường trú để đăng ký kết hôn, thì có thể thực hiện việc đăng ký kết hôn tại nơi đăng ký tạm trú, nhưng phải có Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của UBND nơi đăng ký thường trú.
Căn cứ khoản 3, Điều 1 Nghị định số 06/2012/NĐ-CP thì việc xin cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là loại việc hộ tịch được uỷ quyền. Cha, mẹ của ông bà chỉ cần có một trong các giấy tờ chứng minh họ là cha đẻ, mẹ đẻ của ông bà (như Sổ hộ khẩu gia đình hoặc Giấy khai sinh…) là có thể thực hiện việc yêu cầu UBND xã nơi đăng ký thường trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho ông, bà (mà không cần phải lập giấy ủy quyền có công chứng, chứng thực).
Khi cha mẹ của hai bên gửi Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của UBND nơi đăng ký thường trú cho ông bà, thì ông bà có thể đăng ký kết hôn tại UBND cấp xã nơi đăng ký tạm trú theo quy định tại khoản 1, Điều 18 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP (nêu trên).
Thứ hai, theo quy định của pháp luật về HNGĐ và pháp luật về đăng ký, quản lý hộ tịch thì đơn vị nơi ông bà công tác, làm việc không có thẩm quyền đăng ký kết hôn.
Theo https://baochinhphu.vn