1. Hôn nhân đồng giới là gì?
Hôn nhân đồng giới hay hôn nhân đồng tính là hôn nhân giữa hai người có cùng giới tính sinh học. Hôn nhân đồng giới có khi còn được gọi là “hôn nhân bình đẳng” hay “bình đẳng hôn nhân”, thuật ngữ này thường được sử dụng phổ biến từ những người ủng hộ. Việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới còn được mô tả bằng thuật ngữ “định nghĩa lại hôn nhân” từ các trường phái có quan điểm đối lập.
2. Pháp luật Việt Nam về hôn nhân đồng giới
Đứng ở góc độ quyền con người, người đồng tính cũng có quyền sống, quyền ăn, ở, quyền được yêu thương và mưu cầu hạnh phúc,... Còn đứng ở góc độ quyền công dân, họ được lao động, học tập, khám bệnh, chữa bệnh, khai sinh, khai tử, kết hôn,... có quyền và thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước, xã hội.
Trước đây, nếu theo Luật hôn nhân và gia đình 2000 thì việc kết hôn giữa những người đồng giới bị cấm. Từ 1/1/2015, Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi năm 2014 có hiệu lực Quốc hội đã bỏ điều cấm này và thay bằng điều 8, khoản 2 là: “ Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”. Như vậy, những người đồng giới tính vẫn có thể chung sống, nhưng pháp luật sẽ không xử lý khi giữa họ có tranh chấp xảy ra. Đây là kết quả của quá trình vận động và thảo luận xã hội trong suốt những năm qua, dẫn đến việc các nhà làm luật đã nhìn nhận tích cực hơn về quyền kết hôn, bình đẳng của người đồng tính và các cặp đôi cùng giới.
Thực tế cho thấy, vấn đề kết hôn giữa những người đồng tính là một vấn đề diễn ra phổ biến, công khai hiện nay. Theo các thống kê được đưa ra, thì ước tính có khoảng 2,5 triệu người đồng tính ở Việt Nam. Con số đó không phải nhỏ, nhưng cũng chưa phải là lớn nếu so với quốc gia có số dân gần 100 triệu người. Xã hội hiện nay đang nhìn nhận vấn đề này rất khác nhau. Nhiều người nhìn nhận vấn đề này liên quan đến quyền con người, thể hiện tính nhân văn, giảm kỳ thị của xã hội. Tuy nhiên, ở mặt khác của vấn đề, hôn nhân đồng giới được cho là không phù hợp thuần phong mỹ tục, truyền thống gia đình Việt Nam, không phù hợp quy luật sinh học và không đảm bảo chức năng gia đình về duy trì nòi giống. Điều quan trọng là việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới liệu sẽ dẫn đến bao nhiêu hệ lụy tiêu cực xã hội mà pháp luật chưa lường hết.
Thực tế cho thấy, để cho phép và công nhận hôn nhân đồng giới thì không chỉ dừng lại ở việc đưa ra một quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, mà còn phải xem xét sửa đổi, bổ sung các quy định khác trong hệ thống pháp luật. Chẳng hạn: bổ sung quy định giải quyết hậu quả của việc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính về quan hệ tài sản, xác định cha, mẹ, con và quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ và con... cùng với đó sẽ phát sinh các vấn đề sửa đổi hộ tịch.
Do vậy, việc công nhận hôn nhân đồng giới không chỉ do ý chí của các nhà lập pháp mà còn bị ảnh hưởng bởi những yếu tố khách quan về văn hóa, xã hội. Hơn nữa, như đã phân tích trên, việc thay đổi, ban hành một chính sách pháp luật mới còn cần phải xem xét sửa đổi, bổ sung các quy định khác trong hệ thống pháp luật để thống nhất thực hiện, đảm bảo tính khả thi trên thực tế.