Tư vấn

Hôn nhân - Gia đình

Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo quy định của pháp luật "
Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo quy định của pháp luật "
Khoa học phát triển, phương pháp sinh con theo khoa học ra đời đã cho phép các cặp vợ chồng vô sinh và những người phụ nữ độc thân có thể có con, niềm mong mỏi tha thiết của họ đã trở thành hiện thực. Tuy nhiên, việc sinh con theo phương pháp khoa học đã làm nảy sinh rất nhiều vấn đề pháp lý trong đó việc xác định cha, mẹ, con là đặc biệt quan trọng bởi nó liên quan mật thiết đến các quan hệ nhân thân, tài sản phức tạp.

1. Sinh con bằng biện pháp hỗ trợ sinh sản là gì?

Theo khoản 21, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (HN&GĐ): “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm”.

Một số kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đang được áp dụng hiện nay là thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm. 

2. Pháp luật hiện hành về việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

2.1. Đối với cặp vợ chồng vô sinh

Theo quy định tại Điều 93 Luật HN&GĐ năm 2014: “1. Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này.”

  Đối chiếu với quy định tại Điều 88, Luật HN&GĐ năm 2014: “1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng”. 

Từ quy định trên ta có thể lý giải, trường hợp vợ chồng thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản dẫn đến người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân thì đứa trẻ sinh ra là con chung vợ chồng. Quan hệ mẹ - con được mặc nhiên xác lập qua sự kiện sinh đẻ, còn quan hệ cha con được xác lập thông qua sự kiện thụ thai giữa cha mẹ của đứa trẻ. Tuy nhiên, đối với việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, việc thụ thai phải được diễn ra trong thời kỳ hôn nhân. Vì thế, quy định căn cứ vào sự thừa nhận của cha, mẹ cụ thể: Trong trường hợp đứa trẻ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân mà việc người vợ có thai nhờ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản lại trước thời kỳ hôn nhân thì không được áp dụng. Tương tự, quy định: Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung, cũng không được áp dụng.

 Ngoài ra, trong trường hợp sau khi thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, hôn nhân của vợ chồng bị chấm dứt thì con được sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, đối với trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, việc mang thai không hoàn toàn chịu sự cho phối của tự nhiên mà còn phụ thuộc vào ý chí của vợ chồng trong cặp vợ chồng vô sinh, vào điều kiện thích hợp theo sự chỉ định của sở y tế.

Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có sự tham gia của bên thứ ba là bên cho trứng. cho tinh trùng, cho phôi. Thực tế, bên thứ ba là cha mẹ sinh học của đứa trẻ sinh ra. Điều này làm ảnh hưởng để quan niệm truyền thống về xác định cha, mẹ, con. Vì vậy mà pháp luật đã quy định giữa con được sinh ra và người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi không tồn tại bất cứ quyền và nghĩa vụ nào, con sinh ra không được hưởng quyền yêu cầu thừa kế, quyền được nuôi dưỡng với người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi.

2.2. Đối với phụ nữ độc thân

Theo quy định tại khoản 6 Điều 2 Nghị định số 10/2015 NĐ-CP: “Phụ nữ độc thân là người phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật”. Căn cứ để xác định cha, mẹ, con trong trường hợp này chỉ dựa vào sự tự nguyện và sự kiện sinh đẻ của chính họ. Theo quy định tại  khoản 2 Điều 93 Luật HN&GĐ năm 2014: “Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra”.

Theo đó, người phụ nữ độc thân đương nhiên là mẹ của đứa trẻ. Pháp luật hiện nay ngoài việc cho phép người phụ nữ độc thân được nhận tinh trùng từ người khác còn cho phép họ được nhận phôi trong trường hơp họ không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai. Việc quy định cho người phụ nữ đơn thân được phép nhận phôi thể hiện được tính chất nhân đạo của pháp luật, bởi khi người phụ nữ độc thân khát khao được làm mẹ nhưng do không có noãn hay noãn không đảm bảo chất lượng để thụ thai, do đó dù có nhận tinh trùng của người khác thì họ cũng không thể thụ thai được nên lúc này họ có thể nhận phôi để được sinh con.

Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra: quy định này phù hợp với nguyên tắc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là: “Việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc vô danh giữa người cho và người nhận” (Điều 3, Nghị định số 10/2015 NĐ-CP).

2.3 Đối với trường hợp mang thai hộ

Điều 94 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra”.

Đứa trẻ được coi là con chung của vợ chồng từ thời điểm đứa trẻ được sinh ra. Người mang thai hộ vẫn được công nhận là mẹ của đứa trẻ cho đến khi nó ra đời. Cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ sẽ không được coi là cha mẹ của đứa trẻ cho đến khi hai bên hoàn thành các thủ tục “chuyển giao” quyền làm cha mẹ đối với đứa trẻ.

Trong trường hợp mang thai hộ, người mang hộ và nuôi dưỡng phôi, đứa trẻ được người mang thai hộ “mang nặng đẻ đau” nhưng giữa đứa trẻ và người mang thai hộ không có mối quan hệ huyết thống nào với nhau. Phôi mà người mang thai hộ không có mối quan hệ huyết thống nào với nhau. Phôi mà người mang thai hộ là do sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ nên xét về mặt sinh học, đứa trẻ sinh ra cùng huyết thống với cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ, đồng thời pháp luật cũng không quy định về mối quan hệ giữa người mang thai hộ và đứa trẻ. Quy định này không chỉ nhằm đảm bảo mục đích của mang thai hộ mà còn giúp ổn định mối quan hệ cha mẹ - con tránh việc xảy ra tranh chấp.

Nguồn tham khảo: http://dantri.vn

 
 

ĐỌC THÊM

Thủ tục đăng ký khai sinh cha mẹ cần làm gì

Khai sinh đóng vai trò quan trọng trong mọi vấn đề không chỉ về pháp lý mà còn về quan hệ xã hội phát sinh sau này.

Ly thân là gì? Pháp luật có thừa nhận ly thân không?

Thực tế có nhiều người quan niệm rằng, ly thân là đã chấm dứt quan hệ vợ chồng và "thoải mái" có quan hệ với nhiều người khác. Vậy nên hiểu ly thân là gì? Ly thân có được pháp luật thừa nhận không?

Làm thế nào để giành lại quyền nuôi con sau ly hôn?

Bạn muốn giành quyền nuôi con khi ly hôn hoặc sau khi đã ly hôn nhưng chưa biết làm thế nào? Bạn cần hướng dẫn cách giành quyền nuôi con khi ly hôn? Hãy tham khảo bài viết dưới đây.

Có phải ai cũng được nhận nuôi con nuôi không?

Quyền nhận nuôi con nuôi là quyền cơ bản của công dân. Tuy vậy, để bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho trẻ em không phải cá nhân nào cũng có quyền nhận nuôi con nuôi . Cụ thể, Điều 14 Luật nuôi con nuôi...

Giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài còn nhiều vướng mắc

Những năm gần đây, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài không còn là hiện tượng ít gặp ở nước ta. Vì vậy, vấn đề giải quyết các vụ ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng được đặt ra...

THỦ TỤC LY HÔN KHI CHỒNG HOẶC VỢ ĐANG THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ

Bạn Phạm Tấn, Thanh Hóa có gửi câu hỏi mong muốn công ty luật PLTT Hà Nội tư vấn trường hợp muốn ly hôn khi vợ đang thụ án. Công ty luật PLTT Hà Nội giải đáp như sau:

Quy định về tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng

Trong thời kỳ hôn nhân, việc xác định tài sản riêng, tài sản chung của vợ chồng là nhằm hướng hành vi ứng xử của vợ, chồng đối với tài sản, là cơ sở pháp lý để vợ, chồng thực hiện các quyền và nghĩa...

Người vợ có thể ly hôn khi đang mang thai không?

Hiện nay, có nhiều trường hợp chồng ngoại tình khi vợ đang mang thai. Vậy trong trường hợp này người vợ muốn ly hôn có được không?

Người giám hộ là gì? Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ

Người giám hộ là gì? Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ

Thừa kế và chia thừa kế trong trường hợp người nước ngoài có bất động sản tại Việt Nam mất

Chia thừa kế trong trường hợp người nước ngoài có bất động sản tại Việt Nam mất là trường hợp thừa kế khá phổ biến tại nước ta hiện nay. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu vấn đề trong bài viết dưới đây.

Tài sản mua trước thời kỳ hôn nhân nhưng đứng tên cả hai vợ chồng

Trước khi kết hôn,tôi có mua một căn nhà trả trước 50% số tiền sau khi kết hôn vợ chồng tôi có trả tiền 50% còn lại, căn nhà đứng tên 2 vợ chồng.Giờ ly hôn thì đó là tài sản chung hay tài sản...

Vợ chồng ly hôn mà có công ty riêng xử lý như thế nào?

Nếu vợ/chồng có công ty riêng từ trước thời kì hôn nhân vậy sau khi li hôn có bị chia không? Trường hợp nào sẽ không bị đưa ra tranh chấp?