1. Khái quát về nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
1.1. Nợ chung là gì?
Nợ chung được hiểu là những khoản nợ phát sinh từ các giao dịch do hai vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập hoặc nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà cả hai cùng phải chịu trách nhiệm. Đồng thời, đây cũng là nghĩa vụ do một bên vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
1.2. Bản chất của nợ chung trong thời kỳ hôn nhân
Trong thời kỳ hôn nhân, các khoản nợ phát sinh từ giao dịch chung hoặc đứng tên một trong hai người nhưng được sử dụng vào mục đích chung (chăm sóc con cái, sinh hoạt gia đình, duy trì tài sản chung...) đều được coi là nợ chung.
2. Cách xác định nợ chung theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014
Căn cứ Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
-
Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
-
Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
-
Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
-
Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
-
Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật Dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
-
Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.
Lưu ý: Theo khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, “Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình.”
Như vậy, một khoản nợ không bắt buộc phải có chữ ký của cả hai vợ chồng mới trở thành nợ chung. Nếu khoản nợ do một bên xác lập nhằm phục vụ sinh hoạt thiết yếu hoặc quản lý tài sản chung thì vẫn phát sinh trách nhiệm liên đới.
3. Nguyên tắc giải quyết nợ chung và trách nhiệm liên đới
3.1. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng
Theo Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với các giao dịch do một bên thực hiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu hoặc các nghĩa vụ quy định tại Điều 37.
3.2. Hiệu lực của nghĩa vụ trả nợ sau khi ly hôn
Căn cứ Điều 60 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:
"Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.
Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết."
Điều này khẳng định rằng việc ly hôn không làm chấm dứt nghĩa vụ trả nợ đối với chủ nợ. Dù đã ly hôn, hai bên vẫn phải cùng chịu trách nhiệm hoàn trả khoản nợ chung trừ khi chủ nợ đồng ý miễn trừ hoặc có thỏa thuận khác.
4. Giải quyết tranh chấp nợ chung và tư cách tố tụng của chủ nợ
Khi vợ chồng ly hôn mà phát sinh tranh chấp về nghĩa vụ trả nợ cho bên thứ ba, việc giải quyết sẽ được thực hiện theo cơ chế sau:
4.1. Nguyên tắc chia đôi nghĩa vụ khi không thỏa thuận được
Nếu hai bên không thể thỏa thuận và Tòa án xác định khoản nợ đó là nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nghĩa vụ thanh toán thường sẽ được chia đôi hoặc phân chia dựa trên tỉ lệ tài sản/lỗi của các bên theo quy định pháp luật.
4.2. Bắt buộc đưa chủ nợ vào tham gia tố tụng
Trong vụ án ly hôn có tranh chấp về nợ chung đối với bên thứ ba, Tòa án bắt buộc phải đưa chủ nợ tham gia tố tụng với tư cách là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
-
Mục đích:
-
Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ, tránh trường hợp vợ chồng tẩu tán tài sản hoặc tự thỏa thuận đẩy trách nhiệm trả nợ cho một bên không có khả năng thi hành án.
-
Giúp Tòa án xác minh chính xác tính xác thực của khoản nợ (số tiền nợ, mục đích vay, hợp đồng vay tài sản...).
-
-
Quyền của chủ nợ khi tham gia tố tụng:
-
Được đưa ra thông tin, tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu đòi nợ của mình.
-
Yêu cầu Tòa án buộc cả hai vợ chồng phải liên đới thanh toán khoản nợ.
-
Độc lập kháng cáo bản án/quyết định của Tòa án nếu phần giải quyết nghĩa vụ tài sản ảnh hưởng xấu đến quyền lợi của mình.
-