I. Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại là gì?
Mang thại hộ là chế định mới được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình, là chế định đầy nhân văn, đem đến cơ hội được làm cha, làm mẹ của các chủ thể khi họ không có khả năng tự thực hiện sinh sản. Điều này cũng một phần mang lại chức năng duy trì nòi giống trong xã hội.
Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác.
Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại là hành vi sắp sếp, lôi kéo, thiết lập, tổ chức nhiều người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác.
Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại là hành vi tổ chức cho người khác mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Đây là tội mới được quy định trong Bộ luật hình sự, nhằm chống lại các hành vi lợi dụng sự cho phép của việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.) để thực hiện vì mục đích thương mại.
Điều 187 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau:
1. Người nào tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
+ Đối với 02 người trở lên;
+ Phạm tội 02 lần trở lên;
+ Lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức;
+ Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
II. Dấu hiệu pháp lý của tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại?
Dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm:
Hành vi khách quan được quy định theo Điều 187 là hành vi tổ chức cho người khác mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Hành vi tổ chức cho người khác mang thai hộ được hiểu là hành vi sắp xếp, Điều hành hoạt động mang thai hộ vì mục đích thương mại như từ tìm người phụ nữ có thể man thai cho người khác bằng việc áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản, kết nối họ với người cần được mang thai hộ, tiến hành các công việc để việc mang thai hộ được thực hiện ở cơ sở y tế,.. để đem lại cho mình lợi ích kinh tế hoặc lợi ích khác.
Dấu hiệu mặt chủ quan của tội phạm.
Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Cố ý đối với việc mang thai hộ cũng như cố ý đối với mục đích hưởng lợi của người phụ nữ mang thai hộ.
Dấu hiệu về chủ thể: là chủ thể bình thường, đủ tuổi và có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Dấu hiệu về mặt khách quan: Xâm phạm đến đối tượng được bảo vệ chủ yếu là phụ nữ và trẻ em.
Hình phạt: Điều 187 quy định khung hình phạt như sau:
– Khung hình phạt cơ bản: bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
– Khung hình phạt tăng nặng: bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, khi có các dấu hiệu định khung tăng nặng:
+ Đối với 02 người trở lên;
+ Phạm tội 02 lần trở lên;
+ Lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức;
+ Tái phạm nguy hiểm.
– Khung hình phạt bổ sung: bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm
Mang thai hộ vì mục đích thương mại còn có thể bị xử lý vi phạm hành chính, cụ thể theo Khoản 1 Điều 60 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ quy định: “Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, sinh sản vô tính, mang thai hộ vì mục đích thương mại”. Đồng thời, người vi phạm còn bị ap dụng biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại khoản 2 của Điều này là “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này”.
Thực tế cho thấy, việc phát hiện, Điều tra, truy tố, xét xử về tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là rất ít.
Theo luatduonggia.vn